Mở rộng và phong phú hóa – Phần 1

Hoạt động du lịch ngang tâm một ngành kinh tế mũi nhọn
Bà Trương Ngọc Thủy, giám đốc Sở du lịch Thành phố Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn báo Tuần Du lịch.
Phóng viên: Năm 1998 là năm đầy ắp những hoạt động của thành phố kỷ niệm 300 năm Thành phố Hồ Chí Minh. Du lịch thành phố đã làm được những gì?
Bà Trương Ngọc Thủy: “Sài gòn 300 năm” có thể là nói là một kỷ niệm đặc biệt quan trọng của đời sống Thành phố này. Đây là một cơ hội để du khách trong và ngoài nước và ngay cả người dân ở đây tìm biết về lịch sử hình thành và phát triển, về đất nước và con người, về nét văn hóa nghệ thuật của người Sài Gòn… Ngay từ đầu năm, ngành du lịch thành phố Hồ Chí Minh đã tập trung giới thiệu về thành phố Sài Gòn là 300 năm và làm hết sức để du khách thích thú và yêu mến thành phố. Chúng tôi đã xây dựng một chương trình hoạt động cho cả năm 1998 và đặc biệt tập trung vào những ngày cuối năm này. Các lễ hội truyền thống, liên hoan văn hóa ẩm thực, các chương trình biểu diễn văn hóa nghệ thuật, cuộc thi hướng dẫn viên du lịch, lễ hội hoa đăng, những tour du lịch mừng Noel và tết dương lịch… Đó là những hoạt động bề nối dễ nhận thấy.
Nhưng quan trọng hơn là một cuộc vận động sâu rộng để mở rộng và phong phú hóa hoạt động du lịch ngang tầm một ngành kinh tế mũi nhọn trong đó vận động toàn ngành tìm kiếm và mở rộng thị trường, chú trọng du lịch sinh thái, phát triển các dịch vụ du lịch và các điểm vui chơi giải trí, gắn điểm du lịch với các khu di tích, tham gia trùng tu và tôn tạo các di tích các thắng cảnh, mở rộng các hoạt động liên kết với các tỉnh với quốc tế đổi mới cơ chế quản lý, củng cố bộ máy và nâng cao năng lực của công tác quản lý nhà nước đối với ngành du lịch, ngăn ngừa những tiêu cực và thiết lập trật tự trong kinh doanh du lịch để không ảnh hưởng xấu đến lợi ích của hoạt động du lịch … là nhiệm vụ rất quan trọng. Chúng tôi đang chăm chút cho từng sản phẩm du lịch, hình thành trung tâm quảng bá và xúc tiến phát triển du lịch, đang vận động mở rộng sự phối hợp tác liên kết, với các ban ngành và các cơ quan hữu quan để nhằm vào việc: An toàn cho du khách, giúp cho du khách, những ngày thoải mái ở Việt Nam, cung cấp cho họ những sản phẩm du lịch Việt Nam có chất lượng cao. Chúng tôi đang thúc đẩy bộ máy toàn ngành học tập và nghiên cứu những mô hình phát triển du lịch tiên tiến trên thế giới.
Phóng viên: Và kết quả cụ thể là?
Bà Trương Ngọc Thủy: Có những kết quả có thể thấy ngay nhưng có những mặt công tác có tính chiến lược mà hiệu quả sẽ phát huy lâu dài. Trong bối cảnh của sự suy thoái kinh tế toàn khu vực và nền kinh tế của đất nước ta cũng chịu những ảnh hưởng tiêu cực nhất định thì việc giữ được lượng du khách nước ngoài đến Việt Nam – đặc biệt trong bối cảnh lượng khách du lịch chiếm tỷ trọng lớn là từ những nước đang chịu sự suy thoái nặng nề là một việc rất khó khăn. Tuy nhiên phải nói rằng, chúng ta đã có nhiều thành công trong việc tổ chức phát triển du lịch cho người Việt Nam chúng ta.
Thúy Thúy – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (1 + 2(53+54))1999.

Thi hứng nhà hàng

Ba vị sếp nọ hẹn gặp nhau tại nhà hàng Hương đêm để vừa bàn chuyện làm ăn, vừa tiêu khiển giải trí sau những tháng ngày xa cách nhau. Qua chuyện trò của ba sếp, ả cave xinh đẹp của nhà hàng biết được họ là ba quan tham đang làm giàu bất chính bằng ba con đường khác nhau. Đợi cho men bia ngấm làm ba vị say khướt, ả cave mới õng ẹo, lả lơi sà vào bàn ba vị và hỏi:
Ba sếp làm ăn nhớ đường nào
Mới lên làm sếp sắm nhà cao
Vợ đẹp, con khôn, xe đời mới
Thử bày cho em được không nào?…
Sếp thứ nhất còn trẻ lắm, hôn cái chụt vào má ả cave, vỗ ngực khoe khoang:
Trăm mối làm ăn bằng nhiều đường
Anh nhờ “Quan Lộ” mới lên hương
Chỉ cần tài xoay và tài móc
Xoay, móc trong dân thật lắm đường…
Sếp thứ hai đã trung tuổi, lấy tay ôm ngang bụng ả cave và ngân nga bằng cái giọng bia lè nhè:
Anh nhờ “Quốc lộ” mới liên doanh
Nhờ con đường ấy mới giàu nhanh
Phết phẩy, anh trổ tài làm xiếc
Vốn trên cấp xuống… biến hóa nhanh!…
Sếp thứ ba có cái đầu hói, bụng phệ, trước người đẹp có vẻ ta đây “nghiêm chỉnh” hơn, nhưng cũng lấy tay “nắn yêu” trên má người đẹp, thong thả ngân nga:
“Quan lộ, quốc lộ”, hai con đường
Hai anh giàu xổi, bất bình thường
Không được bền lâu, không chắc chắn
Đổ bể ra tòa, chẳng ai thương!…
Còn anh từ ngày được làm quan
Họ hối lộ anh rất nhiều vàng
Anh giàu nhờ con đường hối lộ
Đường này với anh còn thênh thang!….
Nghe đến đây, ả cave liền gạ gẫm…
Em nghe hết chuyện làm ăn của ba sếp rồi đó nghe! Phải thưởng cho em đó, không thì… quan lộ, quốc lộ, hối lộ, em sẽ…. tiết lộ hết đó nghe!
ấy chết! Đừng có đùa nghe cưng! Những chuyện ấy mà bị bại lộ thì bọn anh hết đường làm ăn đó!
Thấy ba sếp có vẻ bắt đầu … say tình, ả cave tiếp tục tán thưởng.
Ba sếp giàu lên nhờ… ba đường
Sếp nào em cũng thấy thương yêu
Nhân dịp rửa đường ta vui vẻ
Thưởng em chút ít… lộc con đường
Cả bọn cười ré lên… Nhạc du dương, êm ái đèn phụt tắt, chỉ có ánh sáng mờ ảo… Sau cuộc thi hứng ấy, chắc chắn là cuộc tình hứng cave.
Ngô Xuân Hội
Giá như ngày ấy…
Giá như ngày ấy em, anh
Tình không tan vỡ ta thành lứa đôi
Chắc là cũng giống mọi người
Lúc thăng lúc giáng ở nơi quê nhà
Em làm cô giáo trường xa
Sáng lên đứng lớp chiều ra ruộng đồng
Nón mê váy xắn quai cồng
Chửi mèo mắng chó trách chồng ất ơ
Còn anh ôm mộng văn thơ
Ăn cơm hạ giới ngồi cơm trên trời
Nhưng tình tan vỡ… thế rồi
Anh theo bạn đến xứ người tha phương
Như là không có quê hương
Như là không có em thương một lần
Giữa bao nhiêu sự vui buồn
Chuyện xưa khi nhớ khi quên vọng về
Hỡi người một thuở anh mê
Giá như ngày ấy em thề sắt son
Hẳn là ta đã có con
Hẳn con ta đã lon ton khắp nhà
Hẳn nhà ta có mẹ già
Có giàn mướp ngọt vàng hoa mẹ trồng
Còn bây giờ anh ước mong
Giá như ngày ấy… không có gì!
Nguyễn Trọng Trung
Không em
Anh nằm thức với ngày mai ở đây
Hà Nội em đêm nay có nghỉ?
Một thoáng hao gầu không nói
Mệt mỏi hay là lo âu ước mơ?
Em ơi, ngày mai có gì thế?
Có gì thế mà trong bút anh đặc quánh
Viết không ra chữ
Nghĩa vươn qua chữ
Nghẹn ngào trái tim đập con nước nhỏ
Con nước nhỏ muốn dâng tràn
Những bờ bến khác
Thôi em hãy đợi, anh đợi cho dù những ngày nay
Đâu còn giờ chờ đợi
Giữa giấc ngủ một tuần trời
Du lịch không em. Tháng 12 năm 1998.
Vũ Tú Nạc – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (1 + 2(53+54))1999.

Nuối tiếc – Phần 4

Còn cô em gái chẳng ai màng, nên ở vậy đến già rồi chết. Quế tìm củ Hà Thủ Ô, đến bên ao Nhà Nụ để rửa mặt. Bà thấy một đôi giầy xăng đá trên bờ, mặt ao thì nổi lềnh bềnh một cái mũ phở. Không biết linh tính hay trời xui đất đẩy thế nào mà bà Bính cứ yên trí là thằng con trai đã về đây, vì tủi nhục mà chảy xuống nước. Bà hồ nghi, cầm đôi giầy lên mũi ngửi. Thôi đích thị thằng con trai bà rồi. Mùi hôi chân của nó thì bà biết rõ lắm. Thế là hai ông bà với cô con gái lẳng lặng làm đám ma, đắp một cái mộ giả kín đáo trong núi, bên cạnh ao Nhà Nụ. Cả làng không ai hay biết gì cho đến trước lúc cô con gái chết. Cô ấy kể lại đầu đuôi. Bây giờ cái mộ ấy vẫn còn. Ai đi qua đó cũng nhổ một bụi cỏ hay nhặc cục đất quẳng vào cho kẻ xấu số. Có những đêm trời quang mây tạnh hẳn hoi mà như giông bão, một con chim đen bay lên trên làng xóm hét lên những tiếng ai oán như chim lợn. Người ta bảo đó là hồn thằng con trai bà Bính đi làm phải đang than khóc, sám hối….Nghe cháu nói ông đi tìm chuyện lạ trong làng. Tôi biết gì kể nấy để ông nghe… Bà cho thêm một thanh củi, ngừng nói. Ông ngồi như một khúc gỗ bên bếp. Ông vốn không tin những chi tiết hoang đường của truyện dân gian nhưng giờ thì ông thấy rõ chúng chỉ hoang đường một nửa. Ông biết cái ao nhà nụ đó. Núi Quế ai đắp mà cao – cái ao Nhà Nụ ai đào mà sâu… Câu ca cùng với cái ao trong ký ức trẻ thơ của ông nay chỉ còn như một giọt nước mắt xanh lơ. Thằng con trai ông lang Bính không làm phỉ. Nó chưa từng nhảy xuống cái ao nhà để sám hối. Nó chỉ là một con người kém may mắn, một hạt bụi đáng thương theo gió đưa đi, vẫn trơ trọi một mình trong thế gian như một hạt bụi. Người kể chuyện dân gian, hãy kể thêm đi, hãy thêu dệt thêm đi cho những câu chuyện răn dạy con người của bà. Vai ông oằn xuống như quá sức chịu đựng một huyền thoại đã phủ lên chính cuộc đời ông.
Sáng hôm sau, ông bảo Duyên đưa mình lên núi Quế. Cô gái đi trước, ông theo sau. Mùi thơm từ tóc thiếu nữ lẫn với mùi hoa đồng cỏ nội, những chiếc lá sim bị xéo nát, mặt ao trong xanh làm ông ngây ngây, tỉnh táo như vừa được sống lại. Hai bác cháu đến bên ngôi mộ đất không hài cốt, không tên tuổi, ngôi mộ hàng chục năm nay người ta tưởng là của chính ông. Theo thói quen của dân làng, Duyên ngồi xuống nhặt một hòn đất quẳng lên cái nắm đất đã to một cách khác thường. Bần thần, lơ đãng, ông làm theo cô gái như một kẻ mộng du. Kim Giang – 1998.
Nguyễn Quang Thân – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (6,7,8(99))1999. Đọc tiếp Nuối tiếc – Phần 4

Nuối tiếc – Phần 3

Cuối cùng là Paris, cái túi đựng rác rưởi lẫn thiên thần. Bố mẹ ông mất trong tay đứa em gái. Nó ở vậy không lấy chồng vì nó không đẹp, lại nặng gánh, một người cùng làng gặp ông ở Paris kể lại với ông thế. Nó lo xong hai đám tang thì thân tàn ma dại, lên một cơn sốt rét ác tính rồi mất. Ông không biết bố mẹ và em mất ngày nào. Bà vợ ông, ấy là nói ngày bà còn sống với ông, tổ chức một ngày giỗ chung vào rằm tháng bảy hàng năm. Ở Paris giỗ Tết chẳng là vấn đề gì. Nghe ông nói, cô gái, bây giờ ông đã biết cô tên là Duyên còn cô thì chẳng bao giờ nhắc đến tên ông dù chắc chắn xem hộ chiếu. Thực ra ông không có tên. Ông thấy cái tên của mình chẳng dùng để làm gì ngoại trừ khi đến nhà băng rút tiền trong cái chương mục chắc chắn là vẫn còn rất nhiều sau khi ông chết. “Hay là bác ở lại nhà bố mẹ cháu vài hôm rồi hẵng đi?”. Cô gái nghe ông nói, đề nghị cô rất muốn ông nhận lời. Chuyến thăm quê lần này, cô không tốn kém gì ngoài những hộp bánh Trung Quốc làm quà cho bố mẹ. Ông nhận lời, thêm một điều kiện: Đừng bảo bác ở Pháp về. Hãy nói bác là một người sưu tập truyện dân gian”. Thực ra đó cũng là chút nghề mọn của ông. Ông có viết một cuốn sách mỏng kể lại những truyền thuyết vùng Hạ Lào. Cuốn sách được in ở Pháp rồi bị rơi vào quên lãng. Cô gái mừng rơn. “Cháu sẽ bảo thế. Mà mẹ cháu là tay chuyện đấy bác ạ. Nếu bác định thu thập truyện dân gian thì hỏi chuyện mẹ cháu ấy. Làng mình có khối chuyện hay”. Mẹ Duyên hầm mộ nồi ngô bung với đỗ để ông khách “sưu tầm truyện dân gian” và cả nhà ăn vào ngày mai. Bà đã trên sáu mươi tuổi nhưng còn nhanh nhẹn, chắc hồi trẻ bà cũng mỏng mày hay hạt như cô con gái – ông nghĩ bụng. Ông ngồi bên bếp lửa, cạnh người chồng cứ vài phút lại rít một điếu thuốc lào tận nõ. “Ông làm một điếu”. Ông ta mời. Ông ta bị sặc ngay khi đặt miệng vào, cái điếu cầy đổ chỏng chơ. Bà vợ vừa đẩy củi vừa kể: “Ông có biết cái ao Nhà nụ làng này không? Nó nằm trên lưng núi Quế, miệng ao chỉ bằng cái giếng nhưng sâu thăm thẳm, mấy ông lão làng này đã nối hai trăm sợi dây mũi trâu, đầu dây cột đá rồi thả xuống mà nó vẫn căng như dây đàn. Nước ao gọi là nước mắt mèo, xanh leo lẻo. Ngày xưa, trong làng có ông bà lang Bình, sinh được hai đứa con, một trai, một gái. Thằng con đầu thông minh đĩnh ngộ nhưng phóng đãng, lên tám tuổi đã trốn khỏi nhà, theo lũ buôn trâu ngược rừng Lào, rồi đi mất. Người ta đồn lớn lên nó xưng vua phỉ, cho quân chiếm mấy cánh rừng bên mái Tây núi giăng Màn, Tây đến nó đánh mà tay hay Lào nó cũng đánh. Tiếng tăm nó như thế nên hai ông bà rất khổ. Có ai sung sướng được khi nghe tin con mình làm giặc hả ông? Ông chồng thì tóc bạc phau sau có một đêm, bà vợ thì gầy mòn như hậu sản.
Nguyễn Quang Thân – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (6,7,8(99))1999.

Nuối tiếc – Phần 2

“Xin quý khách vui lòng cho xem hộ chiếu”.
Ồ, không phải ông không vui lòng mà vì ông đang ngẩn ngơ trước cái giọng nói ấy mà thôi. Ông lập cập mở mề gà, đưa hộ chiếu, nhận chìa khóa phòng. Nhưng ông vẫn chưa rời khỏi ghisê. “Nếu quý khách cần đi thăm nhưng đâu xin cho biết. Khách sạn chúng tôi có nhiều loại xe…” Vậy là ông có cớ để nấn ná lại. Không hiểu vì sao ông muốn nấn ná lại. À có. Tôi đi Hà Tĩnh một vài ngày. Cô gái sững sờ một chút. Qúy khách quê Hà Tĩnh. Vâng, Ông nói vẻ bình tĩnh nhưng ngực ông chộn rộn. “Qúy khách, có cần người hướng dẫn không ạ? Khách sạn chúng tôi có thể đáp ứng yêu cầu…” . “Có, tôi muốn một người thuộc đường đi theo”. Ông không ngờ cô gái là người cùng làng. Cô chỉ là nhân viên tiếp tân. Nhưng ông chủ khách sạn đã mềm lòng chiều ý khách, cho cô đi theo ông về Hà Tĩnh, ông có đủ tiền để trả một tua riêng. Cô mừng rơn vì từ lâu không thăm quê, lại bất ngờ được trở về trong chiếc xe du lịch mới cóng, với một ông già sang trọng đồng hương luôn thơm mùi nước hoa. Bây giờ họ đã xưng bác, cháu thay cho hai tiếng quý khách lạnh lùng. Cô gái đã tự nhiên hơn, mạnh dạn hơn, khi ông bác Việt Kiều đưa cho cô một xấp tiền để cô chi phí dọc đường cho cả hai, cô tùy ý gọi gì ông ăn nấy, uống nấy. Với cái tính cần kiệm của người Hà Tĩnh cô chi tiêu khá dè sẻn, sợ ông khách hiểu lầm là mình đang vén tay áo xô đốt nhà táng giấy. “Sao cháu ăn tiêu dè sẻn thế?”. “Tiền của bác chứ có phải của cháu đâu?” Cô đáp với vẻ sòng phẳng rồi nói tiếp: “Cháu thấy bác về quê mà mặt cứ buồn rười rượi, tại sao thế bác? Chắc bác cũng không giàu?”. “Không ai buồn vì không giàu cả”. Ông nói và nhìn sang cô gái đang im lặng như sợ mình vừa lỡ lời. Vì ông không còn thân thích, hầu như không ai ở làng biết ông là ai nên ông định đảo qua thăm lại cái làng của ông, nhìn núi, nhìn đồi, lội qua dòng suối hồi nhỏ ông đã từng tắm với lũ trẻ trâu, với những con trâu bạc, trâu đen lấm bùn, rồi đi. Ông sợ đi thăm nghĩa địa làng vì không biết mộ bố và mẹ ông chôn cất ở đâu. Biết hỏi ai bây giờ? Mà hỏi mộ bố mẹ mình ở đâu thì kỳ quá, ông không dám. Ông rời quê năm lên tám tuổi, có lẽ là đứa trẻ đi bụi đầu tiên của xứ sở quê mùa, trốn học theo một đoàn buôn trâu sang Lào, rồi cách mạng, rồi kháng chiến, ông trôi dạt theo cơn cuồng phong phóng đãng của chính bản thân ông.
Nguyễn Quang Thân – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (6,7,8(99))1999. Đọc tiếp Nuối tiếc – Phần 2

Nuối tiếc – Phần 1

Ở Paris ông có một căn hộ. Ông sống với một người. Người đó là ông. Sự cô đơn của ông được nhân đôi vì ông còn có thêm một cái bóng. Nó hiện ra ngay mỗi khi ông bật lên ngọn đèn điện bốn mươi oát trên trần nhà, lẽo đẽo theo ông mỗi lần ông cuốc bộ bên bờ sông Xen một ngày nắng. Kể ngọn ngành thì trước đây ông cũng đã có một gia đình, nếu hiểu theo nghĩa thông thường. Đó là một bà vợ, một đứa con, một con chó nhỏ, thức ăn uống mua tận quận Mười ba, trong tủ lạnh, nồi niêu, xoong chảo trong bếp. Nhưng cái gia đình ấy không còn nữa. Vợ ông yêu một người khác, anh ta còn già hơn ông, xấu trai hơn ông, tiền cũng ít hơn ông. Hình như con gái ông, cả con chó nhỏ cũng yêu anh ta hơn yêu ông. Ông thêm một kinh nghiệm trong cũng có thể yêu một người thua kém mình mọi mặt. Đó là điều khó hiểu nhất trong mọi điều khó hiểu ông gặp phải trên đời. Phải chăng đó là tình yêu Paris?
Chính vào thời điểm ấy, ông nảy ra ý định về thăm quê hương. Một vạn cây số chỉ là giấc ngủ chập chờn trên máy bay. Nó còn dễ chịu hơn rất nhiều những đêm trằn trọc. Ông tí bật đèn ngủ vì ông sợ cái bóng. Cái bóng của ông và của những thứ khác trong nhà. Paris không gợi ông nhớ đến bà vợ nay đã đi ở một nhà khác, với người đàn ông khác. Cũng không làm ông nhớ con gái. Nó chắc chắn đang vui vẻ với chàng trai của nó ở thư viện hay các bãi cỏ picnic. Ông nhớ những người đẻ ra mình. Mẹ ông, người mẹ có tính tài tử, bênh vực cuộc đời phóng túng của ông từ đầu đến cuối, đứng bên cạnh ông để chống chọi lại người cha nghiêm khắc thuộc loại người “chiếu trải không vuông không ngồi”. Ông cũng nhớ cha, người đã cho ông biết ngọn roi mây còn dễ chịu gấp vạn lần những thói tráo trở thị trường. Ông nhớ tất cả những gì ông không còn nữa. Đón ông ở một cái khách sạn loại xoàng ở Hà Nội là một cô gái sao mà giống con gái ông thế. Cũng cao dong dỏng. Cũng để mái tóc nghịch ngợm xõa lệch về một bên. Và cái giọng Hà Tĩnh ngọt ngào: “Xin quý khách cho xem hộ chiếu”. Người ta bảo ông từ Paris rằng tất cả Receptionist ở bên nhà đều nói giọng Hà Nội là không đúng. Ông giật mình vì giọng nói của cô tiếp tân chính là giọng nói của cô tiếp tân chính là giọng nói của mẹ ông thời trẻ, tuy cao hơn, thanh thoát hơn, cũng là sản phẩm của dòng sông ấy, núi đồi ấy, quê ông.
Nguyễn Quang Thân – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (6,7,8(99))1999.

Thư chúc tết

Nhân dịp Xuân Kỹ Mão 1999, thay mặt lãnh đạo Tổng cục, tôi thân ái gửi tới cán bộ, viên chức, lao động trong toàn ngành lời chúc mừng năm mới, cố gắng mới, tiến bộ mới, đạt nhiều thành tích mới. Năm qua, ngành du lịch Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do thiên tai, bão lũ, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ, và cạnh tranh gay gắt trên thị trường du lịch khu vực, nhưng chúng ta đã nỗ lực phấn đấu, từng bước vượt qua khó khăn, thử thách để duy trì sự ổn định, và phát triển. Tôi nhiệt liệt biểu dương những cố gắng, đóng góp tích của các đơn vị và cán bộ, viên chức, lao động trong toàn ngành. Nhân dịp này, thay mặt toàn ngành tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cấp, các ngành, cơ quan, đoàn thể và nhân dân đã động viên, ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ ngành du lịch trong thời gian qua. Được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, toàn ngành Du lịch ra sức phát huy sức mạnh và trí tuệ của mình, phối kết hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp, tích cực triển khai thực hiện kết luận của Bộ Chính trị về “Đề án phát triển du lịch trong tình hình mới”, quyết tâm đẩy mạnh hoạt động du lịch góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết của Quốc hội và Nghị quyết của chính phủ về phát triển kinh tế – xã hội năm 1999, khẩn trương chuẩn bị chương trình hành động quốc gia về du lịch năm 2000 tạo tiền đề vững chắc bước vào thế kỷ XXI. Chúc toàn thể cán bộ, viên chức, lao động ngành Du lịch Việt Nam và gia đình một năm mới sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt, xin trân trọng gửi tới các cán bộ lão thành của ngành, cán bộ, viên chức hưu trí và gia đình lời chúc mừng năm mới tốt lành. Thay mặt lãnh đạo Tổng cục, tôi chúc Báo Tuần du lịch năm mới có nhiều tiến bộ, nâng cao chất lượng về nội dung và hình thức đáp ứng yêu cầu của bạn đọc, phục vụ đắc lực công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch Việt Nam. Qua Báo Tuần du lịch, tôi xin gửi tới du khách xa gần cùng bạn đọc lời chúc mừng năm mới An khang, Thịnh vượng. Thân ái – Võ Thị Thắng.
P.V-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (6,7,8(99))1999.