Phát triển du lịch theo hướng đa dạng hóa

LTS: Doanh thu hàng năm từ các hoạt động du lịch của tỉnh Nam Định ngày càng tăng. Tỉnh đang phấn đấu đến năm 2005 con số này sẽ đạt từ 150 đến 200 tỷ đồng. Ngành du lịch đang dần dần trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh.
Phóng viên: Xin ông cho biết đôi nét về tiềm năng du lịch của tỉnh nhà?
Ông Nguyễn Văn Khanh: Nam Định là tỉnh nằm ở phía Nam châu thổ sông Hồng, cách thủ đô Hà Nội 90 km, về phía Nam, có diện tích 1.071,6 km vuông với dân số gần 2 triệu người. Nam Định có mạng lưới giao thông gồm cả đường bộ và đường thủy, có 45 km đường sắt xuyên Việt chạy qua và 72 km đường biển. Nam Định có tiềm năng du lịch rất phong phú. Nơi đây không chỉ có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp như bãi tắm Thịnh Long (huyện Hải Hậu), Quyết Lâm – huyện Giao Thủy, làng hoa Điền Xá… mà còn là nơi tập trung nhiều di tích lịch sử văn hóa. Từ đình Thượng Đông Yên Tiên – Ý Yên, nơi Bác Hồ năm xưa về thăm, đến chùa Keo Hành Thiện (Xuân Trường), cầu Ngói Chợ Lương (Hải Hậu) và đặc biệt là khu di tích đền Trần – Chùa Tháp, Phủ Dầy (thuộc ngoại thành Nam Định). Điều lý tưởng là tài nguyên du lịch của tỉnh được phân bố tương đối tập trung, tạo điều kiện thuận lợi để hình thành những tour du lịch độc lập, hoặc kết hợp với các tỉnh lân cận để hình thành các tour du lịch liên tỉnh như: quần thể di tích hành cung Thiên Trương (đền Trần, chùa Tháp, đền Bảo Lộc), quần thể Phủ Dầy, quần thể nhà thờ, nhà chùa, khu bảo tồn thiên nhiên Cồn Lu, Cồn Ngạn, bãi tắm biển Giao Lâm, và Hải Thịnh… Từ Nam Định, du khách có thể tiếp tục tour du lịch của mình đến những điểm du lịch ở các tỉnh khác rất thuận tiện như đến với khu du lịch Tâm Cốc, Bích Động, khu du lịch Trường Yên – Ninh Bình hoặc Ngũ Động, Thi Sơn – Hà Nam… Khách du lịch đến Nam Định ngày một đông và năm sau tăng hơn so với năm trước. Doanh thu từ các hoạt động du lịch đạt hàng chục tỷ đồng mỗi năm. Tỉnh đang phấn đấu đến năm 2005, doanh thu đạt từ 150 đến 200 tỷ đồng.
Phóng viên: Để thực hiện tốt 6 chương trình quốc gia về du lịch và các sự kiện du lịch năm 2000, tỉnh có những chủ trương và kế hoạch cụ thể nào, thưa ông?
Ông Nguyễn Văn Khanh: Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội tỉnh luôn xác định du lịch là ngành kinh tế quan trọng. Tập trung phát triển du lịch theo hướng đa dạng hóa các loại hình, tích cực khai thác, các nguồn vốn để đầu tư cho cơ sở hạ tầng. Thời gian qua, tỉnh đã tập trung cho việc làm đường và điện. Đến nay 100%, các xã đã có điện, hệ thống đường giao thông từ huyện đến các xã hầu hết đã được nhựa hóa. Các đền, chùa, khu du lịch cũng thường xuyên được nâng cấp, tôn tạo. Hiện ủy ban nhân dân tỉnh đang lập dự án kêu gọi vốn đầu tư xây dựng các khu du lịch như: Lâm viên cây xanh, Bảo tàng cổ vật, khu di tích đền Trần, Phủ Dầy, khu bảo tồn rừng ngập mặn Cồn Lu, Cồn Ngạn…Trong năm 2000 này, tỉnh sẽ nâng cấp khách sạn Vị Hoàng ở trung tâm thành phố. Dự tính kinh phí khoảng 7 tỷ đồng, trong đó Nhà nước hỗ trợ 50%, số còn lại thuộc ngân sách tỉnh. Song song với việc đầu tư, nâng cấp, tỉnh cũng tăng cường công tác quản lý Nhà nước về du lịch. Năm 1999, tỉnh đã giao Công ty Du lịch trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Thương mại – Du lịch nhằm xây dựng các doanh nghiệp đủ mạnh để giữ vai trò chủ đạo trong quá trình phát triển du lịch. Ngoài ra, tỉnh cũng rất chú trọng đến công tác đào tạo cán bộ, vì đây là nguồn nhân tố quyết định cho sự phát triển du lịch của tỉnh nhà.
Phóng viên: “Tháng 8 hội cha, tháng 3 hội mẹ”. Hiện nay, nganh Du lịch Nam Định đang rất bận rộn cho ngày hội mẹ – Phủ Dầy. Vậy công tác tổ chức trong những ngày hội năm nay có gì mới, thưa ông?
Ông Nguyễn Văn Khanh: Hàng năm, lễ hội Phủ Dầy thường bắt đầu vào ngày 3 tháng 3 và kết thúc vào ngày 8 tháng 3 (âm lịch). Đây là một lễ hội lớn, là 1 trong 15 lễ hội của cả nước mà Tổng cục Du lịch Việt Nam chọn làm điểm nhấn để bước vào thiên niên kỷ mới. Để tránh tình trạng lộn xộn như mọi năm, năm nay Ủy ban nhân dân tỉnh đã ra quyết định không thu lệ phí đối với khách du lịch, sắp xếp các điểm gửi xe và ra quy định thu giá vé đúng với quy định của Nhà nước. Quản lý chặt các hàng quán, cấm không được lấn chiếm lòng đường. Đới với nội dung của lễ hội, tỉnh đã giao cho Sở văn hóa phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện và các đơn vị liên quan tăng cường phần hội trội hơn phần lễ, mở thêm các tiết mục vui chơi mang tính văn hóa như thả đèn trời, hát xẩm, đấu cờ, đấu vật…Năm nay, tỉnh cũng đặc biệt chú trọng đến công tác tuyên truyền quảng bá thông qua các hình thức như in tờ gấp, in áp phích, băng rôn…
Phóng viên: Xin cảm ơn ông và chức cho những ngày hội ở Nam Định thành công tốt đẹp.
Văn Hóa – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (23(127))2000.

Dưỡng sinh nghề một vốn bốn lời – Phần 2

Có thầy dạy truyền tâm công không thu tiền, chỉ phải mua mấy tờ tài liệu phô tô giá tới 60 nghìn đồng và 25 nghìn đồng chưa kể tiền liên hoan cuối khóa học. Võ sư dưỡng sinh được ai công nhận! Không ai cả. Họ đều tự phong. Nếu đi về vài xã, cách Hà Nội hơn chục km mét, nhiều người biết đến ông N.V.C (ở Gia Lâm) chuyên đi dạy các địa phương, chỉ 30 ngày tập thiền, bán sách, băng, truyền vài câu chỉ dẫn rồi lại chạy sang các xã khác. Không hiểu vị này lấy đâu ra giấy phép hành nghề? Các trung tâm Thể dục thể thao quận, huyện có biết không? Nhiều vị phụ trách Thể dục thể thao không biết rõ vấn đề cần quản lý mà chỉ biết là dạy không thu tiền ít ngày mà đem lại sức khỏe cho người tập là làm ngay! Họ chưa biết đến hạu quả phản tác dụng của nó. Dưỡng sinh ư? Ít ra đã có vài trường hợp bị tẩu hỏa nhập ma, thần kinh khôn ổn định, mất trí nhớ do tập luyện sai phương pháp hoặc bị ám thị. Lúc đó lại phải nhờ đến các bác sĩ đông y hay các cao đồ võ lâm cứu giúp. “Kinh doanh dưỡng sinh” nghe có vẻ hơi nặng nề, nhưng thực sự điều đó đã và đang diễn ra đều đặn. Có trung tâm còn dạy dưỡng sinh cho cả sinh viên theo chương trình thực nghiệm. Đem vài trăm sinh viên – Đại học Dân lập ra thí nghiệm khi mà môn thể dục dưỡng sinh đó chưa được ngành dọc là Liên đoàn võ thuật cổ truyền Ủy ban Thể dục thể thao đánh giá và cho phép. Đây là câu hỏi dành cho môn giáo dục thể chất ngành giáo dục. Trung tâm dưỡng sinh một năm dạy vài khóa sinh viên, giáo viên còn thiếu nhưng số tiền thu không phải là nhỏ tính theo số tiết nội khóa theo hợp đồng. Với vài chiêu, 18 động tác, bảo là võ thì không phải, dưỡng sinh thi còn thực nghiệm nghe có vẻ mập mờ? Có lần tôi đọc cuốn “Thái cực quyền…” tác giả cho dòng họ tới 600 năm cổ truyền khi mà Thái cực quyền chưa kịp sang Việt Nam? Chắc do yếu tố huyền bí này mà đệ tử của thầy rất đông. Thật phục sát đất chiêu tiếp thị này! Dưỡng sinh là phương pháp khoa học chứ không phải là làm phép, tu luyện đạt đạo, ai cũng có thể tập luyện để nâng cao sức khỏe, song tìm chọn phương pháp là rất quan trọng. Vì vậy rất cần sự tư vấn của những người hiểu biết dưỡng sinh, cán bộ Thể dục thể thao. Còn vấn đề quản lý các môn dưỡng sinh cũng cần giao tiếp cho Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam, LĐVT các thành phố, chi hội quận, huyện theo đúng chức năng thể thao võ thuật. Dù rằng, dưỡng sinh nhiều môn cần nghiên cứu thực nghiệm, nhưng không thể tràn lan. Mặt khác cần có các văn bản quản lý thể dục dưỡng sinh chặt chẽ (nằm trong tầm tay của Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam), không nên để thị trường dưỡng sinh trôi nổi, ảnh hưởng tới sức khỏe của mọi người và muốn thu tiền bao nhiêu của môn sinh cũng được.
Nguyễn Văn Long -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (4(108))1999.

Dưỡng sinh nghề một vốn bốn lời – Phần 1

Vài năm gần đây phong trào tìm hiểu và luyện tập các môn dưỡng sinh ngày một gia tăng, vì nhiều người muốn có một sức khỏe tốt, sống lâu khi mà trong cuộc sống có nhiều khó khăn, vất vả. Thế nhưng… Hiện nay, tại Hà Nội có trên chục môn phái dưỡng sinh khác nhau: Thiền của Hoàng Vũ Thăng, Tâm năng dưỡng sinh của ông Nguyễn Xuân Chiều, Thái cực trường sinh đạo của ông Song Tùng, Triết Luân… và nhiều Câu lạc bộ khác trực thuộc Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng, Unesco Hà Nội, Trung tâm phát triển, quản lý và nghiên cứu các phương pháp. Đúng là cơn sốt dưỡng sinh, ai cũng muốn sống lâu hơn người, không tiếc tiền lao vào mà học. Thế còn các sư phụ thì sao? Đa phần họ đã trạc tuổi xế chiều, có ông thì về hưu làm chơi, có ông thì về hưu làm chơi, có ông vẫn còn đang công tác, có người thì chuyên môn bằng nghề dạy dưỡng sinh. Không hiểu họ có thật là giỏi không, khi nhiều ông huênh hoang là đã đạt đạo trường sinh, lúc tập luyện vào buổi tối sẽ thấy hào quang lờ mờ bên mình, nhưng phải duyên mới đạt. Để gia tăng hấp dẫn cho phương pháp đặc biệt, phóng đại khả năng tĩnh công, đồng công chữa bách bệnh, làm tóc đen trở lại, xóa nếp nhăn khi mở thần nhãn đọc được ý nghĩa của người khác, xuất hồn. Thầy N.H.S dạy nhân điện khoe: “Tôi còn nghe được thông tin từ vũ trụ nữa! Chỉ cần học tôi một khóa 3 tháng là có thể đi làm từ thiện cho thiên hạ được rồi! Khi việc học tập các môn này trở thành phong trào rộng, lôi cuốn cả giới trẻ, nhiều chi hộ người cao tuổi, cựu chiến binh, khu tập thể, cơ quan mở lớp tập, không ít cụ học được phương pháp kiên trì rèn luyện đã giữ vững và nâng cao sức khỏe. Tuy vậy trong thời buổi kinh tế thị trường thì dưỡng sinh cũng không thoát khỏi thương mại. Có vị thu tiền một khóa 3 tháng cơ bản nhưng học viên chỉ biết niệm thần chú ví dụ như tôi thu khí đây!. Trời ạ! Chẳng biết đó là dưỡng sinh kiểu gì. Ông Vũ Q.H nhà ở phường Bưởi – Tây Hồ dạy dưỡng sinh không thu tiền nhưng học sinh phải mua sách. Một lớp 80 học viên thì cũng phải bán được trên số đó, vì học viên còn cho con cháu, hay để tặng bạn. Cứ 3 tháng một khóa, tính ra tiền thu là một con số không nhỏ. Trung tâm TCTSĐ ở quận Ba Đình thu tiền nhưng ngoài bán sách còn bán băng, đi dạy các tỉnh xa. Mỗi trung tâm có một cách tiếp thị khác nhau như báo cáo tổng kết, hội nghị chuyên môn, hội thảo khoa học, ra bản tin… cho môn của mình. Họ cũng phản đối khá dữ dội mỗi khi có ai đó động chạm đến công việc dưỡng sinh này! Ông Nguyễn Song Tùng – Câu lạc bộ Thái cực Trường Sinh đạo, cho biết: “Kể từ năm 1990 đến nay Câu lạc bộ có gần 20 nghìn lượt người tập luyện từ 7 đến 93 tuổi, phát triển hầu khắp các tỉnh phía Bắc. Ông Văn Luân nhà ở đường Trần Phú – Thị xã Hà Đông – Hà Tây sau thời gian tập thì bệnh rối loạn tiêu hóa cơ bản là khỏi 70%. Lớp của Thầy L.T học sơ cấp đóng tiền từ 50 nghìn đồng đến 60 nghìn đồng với 10 buổi tập, mỗi buổi 2 tiếng, chưa kể đến tài liệu, băng. Mỗi lớp này có đến cả trăm học viên lại mở liên tục hàng trăm lớp thì doanh thu tiền triệu, tiêu gì cho hết?. Một số học viên tập luyện được chút ít cũng tìm cách ra các tỉnh lẻ đánh quả kiếm chác chút đỉnh.
Nguyễn Văn Long -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (4(108))1999

Giúp việc cho Tây

Khi có nhiều người nước ngoài đến Việt Nam thì nhu cầu thuê nhà ở của họ là rất lớn. Chính vì thế mà những người giúp việc trong những gia đình “Tây” cũng không phải là ít. Ai muốn làm nghề giúp việ cho Tây cũng được tuyển chọn rất kỹ từ lý lịch, trình độ, ngoại hình và còn phải rất trung thực. Bù lại, người làm nghề giúp việc cho Tây thường được trả lương hậu hĩnh so với người lao động bình thường ở ta.
Từ đầu vào khó khăn
Ở Quảng Bá, Nghi Tàm, nơi có đến 40% số hộ gia đình có nhà cho Tây thuê là nơi mà khá nhiều cô gái, chàng trai đổ về dự tuyển giúp việc cho Tây. Vì đây là người làng du lịch, nên số người nước ngoài tới đây thuê nhà cũng đủ quốc tịch Anh, Pháp, Đức, Hàn Quốc… Vì thế việc tuyển người giúp việc cũng không theo một khuôn mẫu nào cả. Người Đức muốn ngoài các tiêu chuẩn về hình thức, trình độ, tính cần cù ra, người giúp việc phải thông minh, am thiểu về mọi mặt của xã hội. Chẳng thế mà một cô gái rất thông minh, xinh đẹp giúp việc cho mọt cặp vợ chồng làm ở đại sứ quán Đức có nhà thuê ở Quảng Bá. Cô không chỉ sẵn sàng trả lời các câu hỏi của họ về văn hóa, xã hội, lịch sử bằng tiếng Anh mà còn giỏi cả tiếng mẹ đẻ của họ là tiếng Đức. Người châu Á dường như không coi trọng hình thức nhiều lắm. Một ông người Nhạt tuyển một nam giới bảo vệ nhà với tiêu chuẩn hàng đầu là trung thực. Chẳng thế mà nhiều người đã bị ông sa thải ngay khi mới làm việc được vài hôm, vì lòng tham mà không biết mưu thử rất tinh vi và tế nhị của ông ta, như ông ta chủ ý đánh rơi một xấp tiền, hay một đồ vậy quý chẳng hạn… Một cô gái có bằng đại học ngoại ngữ hẳn hoi, đi dự tuyển giúp việc cho một gia đình Tây bị trượt, đã than thở: “Tuyển giúp việc mà khó hơn cả chiêu đãi viên hàng không. Thật là mất việc mà kỳ dị khi họ quy định hết tiêu chuẩn này, thử thách kia…”.Cô ta còn cho biết có tới 32 người trượt vỏ chuối khi tuyển cùng cô và chỉ 1 người may mắn trúng tuyển đó là một nữ sinh Đại học sư phạm.
Đến công việc và đồng lương hậu hĩnh
“Làm việc cho Tây không phải là nhàn, mà cũng không ra vất vả. Họ quy định thời gian rất khắt khe, nếu mình không thực hiện đúng thì họ mắng mỏ ngay, thậm chí là thôi việc…”. Đó là lời tâm sự của Thu, người giúp việc cho một người Canada ở Nghi Tàm. Theo tôi được biết thì cũng như những người giúp việc cho các gia đình Việt Nam những người giúp việc cho Tây phải làm các công việc lặt vặt trong gia đình như bảo vệ nhà cửa, quét dọn, giặt giũ, nấu nướng đưa con cái họ học thậm chí cả mang chó mèo đi đái ỉa.. Có những gia đình Tây khá giả đã thuê nhiều người giúp việc cho riêng từng bộ phận. Ví dụ như vợ chồng Luzt, người Ba Lan, thuê nhà ở làng Ngọc Hà 3 nghìn đô la Mỹ một tháng và 3 người giúp việc. Một người đàn ông bảo vệ ban đêm, hai người phụ nữ, một quét dọn, giặc giũ và một chỉ nấu ăn mà thôi. Tuy nhiên, đạt đa số những gia đình Tây chỉ thuê một người giúp việc và vì thế người đó phải đa năng trong mọi lĩnh vực, từ làm công việc vặt tới việc nấu ăn. Những người giúp việc cho Tây thường là phụ nữ trẻ tuổi. Vì thế, nếu muốn lấy lòng gia chủ và đảm bảo cho công việc của mình, thì họ chỉ có cách là phải tận tụy với công việc, trung thực với chủ, với của cải của chủ. Người nước ngoài rất ghét tính tắt mắt và lòng tham, vì vậy những ai có tính như vậy sẽ không có chỗ đứng trong việc làm cho Tây. Có lẽ chẳng dại gì khi rất nhiều người lao vào nghề giúp cho Tây và phải làm khá vất vả nếu như họ không được trả đô la Mỹ, France, Mác tính ra tiền Việt Nam… Người ta vẫn thường bảo cái gì liên quan đến Tây cũng đều dễ sống, như đi Tây, lấy chồng Tây và giúp việc cho Tây cũng thế. Họ được trả lương khá cao so với thu nhập trung bình của người dân Việt ta. Theo mức lương trung bình mà người nước ngoài trả cho người giúp việc ở Hà Nội là từ 80 tới 150 đô la Mỹ một tháng. Mức tối thiểu là 80 đô la Mỹ và mức cao nhất có thể tới 200 đô la Mỹ, tùy theo công việc, sự thân thiện giữa chủ và người làm công… Ngoài lương cao ra, hầu như những ai giúp việc cho Tây cũng thi thoảng được họ biếu quà, thưởng tiền nếu như hoàn thành công việc. Tuy nhiên, cũng không ít người giúp việc bị phạt và chủ yếu bị đuổi việc vì làm phật ý chủ. Giúp việc cho Tây có thể không bao giờ là một nghề ổn định, nhưng hiện tại không ít người đã và đang sống bằng những đồng tiền từ những công việc làm đó. Có thể những người đi giúp việ cho Tây là sinh viên, tri thức hay gì đi chăng nữa, thì những công việc họ là và những đồng tiền họ kiếm được bằng chính mồ hôi, công sức và có khi cả nước mắt bỏ ra đệu là chân chính lương thiện.
Nguyễn Văn Sỹ -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (4(108))1999.

Hội xuân và văn hóa làng xã Việt Nam

Văn hóa Việt Nam căn bản vẫn là văn hóa làng xã . Dấu ấn làng quê ấy in đậm ở hội làng. Hội làng là một sinh hoạt văn hóa, xã hội, tôn giáo, nghệ thuật đặc sắc, tổng hợp và định kỳ của cộng đồng người làng. Xuân thu nhị kỳ, hai mùa hội làng, người làng như có dịp ngơi nghỉ, xả hơi, để ăn và chơi để ngưỡng vọng. Nhưng vui nhất vẫn là hội xuân, bởi ngày xuân là ngày của lễ hội, của hội làng. “Bức vẽ chơi xuân” (Du xuân đồ) của tranh làng Hồ có mấy câu thơ: “Thái Bình mở hội xuân. Nô nức quyến xa gần. Nhạc dân ca trong điện. Trò thưởng vật ngoài sân”. Từ tháng giêng, hội xuân hội làng đua nhau nở khắp làng quê. Từng đoàn người quen chen vai, thích cánh dự lễ hội chùa, hội đền, hội đình, hội miếu… Không khí màn hương khói tín ngưỡng tốn giáo trong hệ thống lễ, ở đó thể hiện mối giao cảm giữa con người với thế giới siêu nhiên, tự nhiên như thần linh, ma quỷ, mưa gió, sống nước, các vị anh hùng dân tộc…, hội xuân làng xưa có văn nghệ, có võ đồng thời có diễn (diễn tuồng, diễn chèo, diễn múa, diễn ca), có thao (vật, võ, đua thuyền, hất phết…). Thông qua các hoạt động trong phần hội của hội làng, con người giao cảm hơn với con người. Có lẽ không ở đâu, tinh thần cộng đồng như một đặc trưng văn hoa của người Việt lại có dịp được thể hiện sắc nét như ở hội làng. Người đến hội làng, say mê với những truyền thuyết nghìn đời về những nhiên thần, nhân thần trong mối giao cảm giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên. Những thần tích về các vị thành hoàng, những câu chuyện về các ông tổ nghề truyền thống được người dự hội chiêm nghiệm. Có người thích thú với cảnh trí hội lễ long trọng, trang nghiêm với cờ đại, cờ nheo, cờ thứ phương ngũ hành, với những biểu tượng long, lân, quy, phượng. Con người được tắm mình trong không khí linh thiêng, cảm nhận trong từng huyết mạch của mình nguồn sống từ xa xưa truyền lại. Còn những ai mơ mộng lại có dịp thả hồn trước bức tranh thiên nhiên kỳ thú, đầy chất thơ của vùng trẩy hội. Mùa xuân làm cho con người và thiên nhiên dường như mới lạ, thanh tân, thanh xuân hơn. Lễ hội mùa xuân chính là dịp để con người, làng xóm tự biểu hiện mình, tự thỏa mãn nhu cầu văn hóa vật chất và tâm linh của mình. Qua lễ hội, con người bộc lộ tình cảm tâm tình với nhau. Ca dao có câu: “Có xôi có oản mới nên phần. Có nam có nữ mới nên xuân”. Bên cạnh đó, hội xuân còn là phương tiện chuyển tải những giá trị văn hóa truyền thống từ thế hệ này qua thế hệ khác. Những di sản văn hó dân tộc được bảo tồn một cách có hiệu quả trong hội xuân: hát chèo, hát hội, những trò chơi dân gian, những làn điệu dân ca… Hội làng không thể thiếu những trò vui và lễ hội làng nào cũng có trò đánh vật. Tranh dân gian làng Hồ tả cảnh vật tưng bừng với bốn cặp đấu vật dự thi và hai chuỗi tiền giải, tràng pháo dài, gợi sức xuân lắm. Còn đây là Hội vật của Hoàng Cầm, đến đoạn thư hùng quyết liệt:
Thùng thùng trống chuyển nhịp tơi bời
Nhiễu đỏ bên trái lên nhiễu xanh bên phải xuống
Nhòe bụi cuốn
Cột đồng dựng
Núi đã mọc
Ngón chân cày đất ba gang
Vạt cỏ đuôi gà bật rễ
Đất võ đài nho lên lõ xuống
Chòng chành vạn chiếc mắt thuyền
Đến với hội xuân, người già thì tế lễ, người trẻ tham gia các trò chơi xuân: chọi gà, đánh vật, bơi chải… Tất cả tạo nên một không khí sinh hoạt hiếm có, một quá trình trưng diễn phong tục, tập quán địa phương, một quá trình trưng diễn phong tục, tập quán địa phương một quá trình hòa nhật, công cảm giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên.
Trần Xuân Toàn -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (6(110))1999.

Có một xóm tình… – phần 3

Nhạc khi ỉ ôi não nuột, khi rền rĩ mơ màng, lúc lại bất thần ưỡn lên vài bản tráng ca tình ái to hết cỡ cũng không thể khỏa lấp các âm thanh đặc trưng của sự hú hí, cứ lúc rúc, rột roạt, thều thào bốn xung quanh. Trong cái không gian này, tôi hiểu, đến tiên nữ cũng phải cúi đầu làm nô lệ, cứ gì mấy cô bé măng tơ đang ngỡ ngàng trước bể tình lai láng.
Thay lời kết
Có trại thì có chuồng. Nhiều chuồng làm nên trại và nhiều trại làm nên cái xóm tình xóm tình Đà Nẵng đã vanh danh. Tuy nhiên, trong chừng mực nào đó, vẫn chưa thể xem hiện tượng yêu nhau trong chuồng trong trai này như một thứ tẹ nạn cần xóa bỏ bằng các biện pháp mạnh. Đã có một thời gian rất dài, chúng ta lơ là chuyện tạo ra sân chơi trong sạch, nghiêm túc, định hướng nhân cách và tôn trọng nhân sinh quan của giới trẻ trước ngưỡng cửa hôn nhân. Và cũng đã có một thời gian rất dài, chúng ta chỉ áp đặt cực đoan những định biến tiền hôn nhân lên hành vi của giới trẻ mà quên rằng cùng với sự mở cửa, giao lưu… họ là những người tiếp thu nhanh nhất, nhạy cảm nhất chuyên yêu đương ngoại nhập. Nhiều nước, trai gái có thể hôn nhau chỗ đông người. Còn ở ta nơi công cộng vẫn, vẫn gặp các cậu ấm, thậm chí cả cô chiêu công khai (xin được dùng từ lịch sử) “đi toa lét” trong khi ấy thì cái hôn sạch sẽ thiêng liêng lại phải dấu diếm âm thầm trong bóng tối. Vấn nạn có lẽ ở chỗ này bởi bóng tối luôn đồng lõa với các trò vượt cái hôn trao gửi tình áy mà thượng đế hào phóng ban tặng nhân loại như hào phóng ban tặng môn thể thao bóng đá. 5 nghìn đồng một ly nước bất kể chanh hay cà phê… còn nếu uống 2 ly chỉ tốn có 8 nghìn đồng. Với cái giá quà bèo, so với thuê phòng khách sạn ấy, một cặp nam nữ chưa biết làm gì ra tiền, mỗi tuần cũng có thể ghé xóm trại đôi lần. Không là tệ nạn nhưng trại tình, xóm tình mặc nhiên là vấn nạn. Vấn nạn không chỉ dừng ở chỗ lớp trẻ yêu nhau đánh mất nhân cách khi bỏ tiền mua bóng tối hay có rất nhiều cặp nam nữ chở nhau đến trại đang ở dưới tuổi vị thành niên… Một chiều trên biển Bắc Mỹ An, tôi gặp nhóm du khách mũi lõ mắt xanh háo hức hỏi thăm lối về xóm tình. Không phải Pataya của Thái Lan hay sao Paulo của Brazil… nhưng biết đâu, xóm tình Đà Nẵng lại chẳng là một địa chỉ đáng phấn khích theo chân các du khách kia, khi trở về cố quốc. Đà Nẵng tháng 6 năm 1999.
Dương Thanh Tùng -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (26(78))1999.

Có một xóm tình… – phần 2

“Rừng” ra đời từ giữa năm 80 và vì nhiều lý do khác nhau, vẫn chỉ là ốc đảo trong lời đồn đại. Đầu những năm 90, kinh tế khá dần, tình nhân, từ chíp hôi đến sồn sồn, cưỡi xe đời mới phóng veo veo đã “kén cá chọn canh”… “Rừng” quá tải!. Ngay lập tức, trên con đường ấy, mọc thêm “Sao Đêm”, “Sao Mai”, “Biển Nhớ”. Quán mọc thêm nhưng không đủ cung cầu. Bãi biển ngút ngàn dương liễu từ Mỹ Khê đến Bắc Mỹ An đâu đâu cũng gặp lứa đôi tình tự. Dịch vụ, cho thuê chiếu phát sinh, biển lúc cồn cào như đói, lúc rì rào như thở nhưng lại lắm nhiễu nhương – không gặp đám con nít ranh quấy rầy thì cũng liên tục bị mời mọc mua hàng rong lúc đang mùi mẫn (chưa kể bị lưu manh xin đểu hay dỡ trò mất dạy). Nắm bắt được tâm lý khát khao khôn cùng là được yên ổn, thỏa chí tang bồng của các kẻ yêu đương, xóm trại hình thành. Chưa đầy vài tháng, đoạn đường mấy trăm mét, nguyên là khu tập thể của một đơn vị xây lắp (bây giờ là tổ 31B và 54 thuộc khu vực Mỹ Đa Đông, phường Bắc Mỹ An) rộ lên vài chục cái trại. Ban ngày, nơi đây được xem là phố hưu, vắng vẻ, trong lành và nghiêm túc. Khi tia nắng hoàn hoan cuối cùng vừa giã biệt chân trời phía tây, hộp đèn đã được đem ra, treo tòng teng trước cổng các ngôi nhà đỏ đỏ xanh xanh, rạng rỡ màu tình. Không chỉ có màu mà còn có mùi. Mùi tình cứ rừng rực trên bảng hiệu. Từ đường Ngũ Hành Sơn rẽ xuống, sẽ gặp ngay cái hộp đèn “Cà phê vường mi mi”. Qua khỏi “Mi” sẽ đến Ngọc Lan, qua Ngọc Lan sẽ đến Hương Đêm… rồi, dài dằng dặc những Nam Dương, Hoàng Mi, Hoa Mai, ước Hẹn, Nụ Hồng, Vườn Hồng, Hồng Ngọc, Trúc Viên, Biển Nhớ, Anh Vũ, Thảo Lan Viên, Điểm Hẹn, Thảo Nguyên, Trung Dương, Thủy Tiên, Tình Nhớ, Tình Lặng… rực rực, rực rực trong mắt những kẻ đi tìm chỗ yêu nhau khác nào lửa trong đêm Nam Cực. Nườm nượp, nườm nượp hết cặp kia, không biết mệt mỏi chán chê, ra vào xóm trại từ lúc trời chạng vạng nhà nhem cho đến khi phố phường vắng hoe, nhà nhà im ỉm.
Trong trại
Cô bé thực tập sinh sắp rời trường Đại học đồng ý giúp tôi đi trại để lấy tư liệu cho bài viết với các cam kết bất di bất dịch. Để cô gái yên tâm, tôi thề rằng mình sẽ vững như Đường Tăng và trong sáng như Tể tướng lưng gù. Bỏ qua không dưới chục đóm đèn pin mời gọi, như một kẻ đi trại thâm niên, tôi rà rà đáp xe vào sân một trại đã có mười mấy xe khác sắp hàng. Anh chị dùng gì? Một thanh niên săm soi chiếc đèn pin trên tay hỏi, sau khi đã chìa cho tôi cái vé giữ xe. Chanh, chanh nóng nhưng một ly thôi, vào đây cần gì uống nhiều tôi giả lả. Thanh niên nhìn tôi cười, cái cười đầy hiểu ý và đầy cảm thông. Cầm cái đèn pin đỏ như đom đóm đực mở đường, quanh co qua mấy lối đi rậm hơn cả rừng hoang, anh thanh niên vén một túm cây, lia đèn vào bên trong. Anh chị vô đi sau một lúc định thần mà vẫn không quen với bóng tối, chúng tôi cùng quờ quạng ngồi lọt thỏm xuống cái ghế bố. Thừa nhận đây là kiểu ghế đặc biệt nó khiến hai người cứ phải sát vào nhau trong tư thế nửa nằm nửa ngồi, hết sức tiện lợi. Chừng mười phút, thanh niên cầm đèn quay lại, gõ lọc cọc lên cây cột ngoài lối đi, chìa vào trong ly nước chanh. Tôi ngỏ ý xin thêm cây hương muỗi, anh ta bảo: Yên tâm, anh chị cứ thoải mái, em đã xịt thuốc hồi chiều. Ô chuồng của chúng tôi nằm giữa nhiều ô khác.
Dương Thanh Tùng -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (26(78))1999.

Có một xóm tình… – phần 1

Trại cơm, trại nhậu, trại tình… Trại cơm bán cơm, trại nhâu bán đồ nhậu. Còn trại tình, không bán tình mà chỉ bán chỗ. Một chỗ trong trại tình bằng bữa cơm bụi lổn nhổn rau rác ở trại cơm bằng lưng đĩa mồi trong trại nhậu. Tình, ăn cũng no, uống cũng say. Các cô gái say tình mặt cũng đỏ căng nhưng mấy ai biết được, họ say, trong bóng tối. Nhiều trại tình làm nên… xóm. Xóm tình nằm trên con đường dẫn xuống một khu du lịch biển, bên cạnh Furama Resort sang trọng vào bậc nhất của miền Trung.
Trại… mô tả
GARDEN Café. Nếu là ban ngày thì hiển nhiên đấy là một khu vườn được tận dụng để bán cà phê. Còn ban đêm, trên hộp đèn xanh đỏ, nó là những dòng chữ thông báo địa chỉ một trại tình. Đến trại toàn bướm nội chim ta nên GARDEN Café – “Tây bồi” nửa đực nửa cái, người Pháp đọc cũng ngơ ngẩn, người Anh đọc cũng lắc đầu, không đắt bằng mấy chữ nhãn tiền mẹ đẻ cha sinh: Cà phê vườn. Vì là vườn cho tình ái nên đa phần tên trại đều phản phất hơi hướng địa đàng – như thơ, như nhạc, như văn: Chiều Tím, Vườn Hồng, Sông Xanh, Dzạ Lữ…
Vốn liếng đầu tư cho một trại không bao nhiêu. Chỉ cần khoảng tiền nho nhỏ, thuê khuôn đất, kiếm cây lá về quây lại thành các ô. Mỗi ô rộng thì đôi mét, hẹp thì già một mét vuông – giông giống các ô ở khu chăn nuôi thời đất nước còn mô hình Hợp tác xã. Ví như lá chưa kịp xanh, cây chưa kịp mọc thì lấy vải dầu, cốt ép quây lại; đặt vào mỗi ô một cái ghế bố (loại ghế đôi) hay tấm gỗ, gỗ có chân chôn chắc xuống đất. Vì sao chân ghế phải chôn chắc, xin hỏi các cặp tình nhân từng đôi lần chia nhau trái cấm – còn xanh căng hay đã bèo nhèo chín nẩu trong trại. Có ô, có ghế thì phải có cái bàn để đặt hai ly nước. Bàn thường là cục đá, miếng ván hay mấy thanh gỗ ghép lại, rộng cỡ tờ giấy đánh máy. Như vậy là đủ. Không gian chỉ có hai người chàng A Đam và nàng E Va, bói cũng không ra con thạch sùng vén đêm nhìn trộm, cần gì cho lắm! Nghe nói các trại nổi tiếng ở khu Thanh Đa, dọc sông Sài Gòn lịch sự có thêm cái mắc áo. Nhưng đấy là Sài Gòn, còn trại tình Đà Nẵng mỗi ô chỉ vẻn vẹn chừng ấy thứ.
Xóm trại
Nói không sai thì ở Đà Nẵng, trại tình có mặt “trên từng cây số”. Đường phố lớn – trại! Ngõ hẹp cũng trại! Trại càng hun hút trong ngõ sâu gái trai càng dập dìu. Tiền thân của trại tình ở Đà Nẵng (hình như) là quán “Cà phê rừng” trên con đường xuống biển T20 (Mỹ Khê).
Dương Thanh Tùng -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (26(78))1999.

Bao giờ Mẹ Suốt được giải vây?

Đến thị xã Đồng Hới tỉnh Quảng Bình, chúng tôi không quên ghé thăm Đài tưởng niệm Mẹ Suốt bên sông Nhật Lệ. Từ năm 1964 đến lúc hy sinh năm 1968, Mẹ Suốt cùng đân làng Bảo Ninh đã chèo thuyền đưa bộ đội, vũ khí qua sông Nhật Lệ dưới làn mưa bom bão đạn của máy bay địch. Than ôi, đến tận nơi chứng kiến chúng tôi thất vọng vô cùng. Xung quanh khuôn viên đài tưởng niệm là bãi chợ tập kết đủ loại rau củ, cá mú nhếch nhác. Cái biển báo khu vực cấm họp chợ là 70 mét sờ sờ ngay đó càng chứng tỏ sự vô trách nhiệm của những người có trách nhiệm! Luồn lách qua những dãy lều lán lụp xụp bốc mùi xú uế, chúng tôi thấy đài tưởng niệm thật là tội nghiệp. Tường rào bao quanh đổ nát nham nhở trơ khấc hàng gạch chân tường. Đài tưởng niệm quá đơn giản, chỉ là tấm bê tông xám loáng lổ đắp nổi hình như người phụ nữ cầm mái chèo đứng trên thuyền được đựng trên một cái bệ gạch khắc chìm vài dòng về thân thế của Mẹ Suốt. Rất mong chính quyền thị xã Đồng Hới nhanh chóng giải tỏa bãi chợ, trả lại sự trang nghiêm cần có ở Đài tưởng niệm của Mẹ Suốt. Nếu có thể nên xây dựng Đài tưởng niệm trang trọng hơn ở một vị trí thích hợp hơn, xứng đáng là đài tưởng niệm một người mẹ đã trở thành huyền thoại, biểu tượng cho tinh thần dũng cảm của phụ nữ Việt Nam.
Sự kiện tuần qua
Sáng ngày 21 tháng 6, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã tới thủ đô Viêng Chăng, thăm chính thức nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào theo lời mời của chủ tịch Khăm tày Xi phăn don. Chủ tịch Trần Đức Lương cùng các vị thành viên trong đoàn đã có cuộc hội đàm quan trọng với các vị lãnh đạo Nhà nước Lào. Kỷ niệm ngày báo chí Việt Nam ngày 21 tháng 6, trên cả nước đã diễn ra nhiều hoạt động sôi nổi. Nhân dịp này phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã gặp mặt thân mật với đông đảo đại biểu báo chí tại trụ sở Hội nhà báo Việt Nam. Phó thủ tướng khẳng định vai trò quan trọng với những đóng góp tích cực đầy hiệu quả của báo chí Việt Nam trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước. Ngày 22 tháng 6, Ủy ban Thường vụ quốc hội đã công bố nghị quyết kỳ hợp thứ 5, Quốc hội khóa X.
6 Tháng đầu năm 1999 du lịch Hà Nội tăng trưởng 5,8%
Với chủ trương đa dạng hóa kinh doanh, coi trọng cả đòn khách du lịch vào và đưa khách đi du lịch nước ngoài, mở thêm tour, tuyến du lịch nội địa, mở thêm dịch vụ trong các khách sạn… 6 tháng đầu năm nay doanh thu du lịch Hà Nội ước đạt 527 tỷ đồng, tăng 5,8% so với cùng kỳ. Tỷ trọng doanh thu trong các doanh nghiệp quốc doanh và liên doanh với nước ngoài đều tăng so với quý I. Doanh thu từ hoạt động lữ hành chiếm tỷ trọng là 12%, tăng 2% so với quý I. Lượng khách du lịch đến Hà Nội ước đạt trên 597 nghìn tăng 9,9% so với cùng kỳ. Trong đó khách du lịch quốc tế ước đạt trên 141 nghìn, tăng 6%.
Nguyễn Tiến Ngân -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (26(78))1999.

Một thành cát tư hãn vẫn đang được tìm kiếm

Công cuộc tìm kiếm một thành cát Tư Hãn vẫn là một việc thường xuyên, liên tục của nhà nước Mông Cổ từ nhiều thập niên nay. Mới đây, Viện sử học, thuộc Viện Hàn lâm Mông Cổ lại mở một cuộc tìm kiếm theo hướng mới và quy mô lớn hơn so với trước đây. Các nhà khoa học đã khoanh vùng các địa danh lịch sử liên quan đến giai đoạn cuối Thành Cát Tư Hãn, và sưu tầm những mẩu chuyện dân gian về ông mong lần ra manh mối. Có truyền thuyết kể rằng lúc mất Thành Cát Tư Hãn đã ra lệnh hàng nghìn ngựa chiến của ông phải được đưa vào cùng lăng mộ với ông. Còn theo cuốn “Mông Cổ bí sử” do các sử gia thời Thành Cát Tư Hãn ghi thì ông mất ngày 12 tháng 7 năm 1279 trên đường thắng trận từ Tangut trở về. Trước lúc hấp hối, ông đã yêu cầu thuộc hạ mai táng ở chân núi Khentay, trong nghĩa trang của tộc họ ông. Một cuốn sử khác của nhà viết sử Ba Tư Bashid cũng ghi giống như trên. Tuy nhiên hơn 10 năm tìm kiếm theo những địa chỉ đó vẫn chưa thấy gì. Đây cũng là một công trình khoa học lớn, các nhà khoa học Mông Cổ đề nghị được sự giúp đỡ hợp tác của những nhà khoa học nước ngoài có liên quan.
Hầm ngầm bí mật của tổng thống Nam Tư Milosevic
Báo chí Anh mới đây đã công bố bức ảnh về khu hầm ngầm của tổng thống Nam Tư Milosevic. Thực ra công trình ngầm tối mật này được xây dựng từ thời nguyên soái, Tito với mục đích đề phòng một cuộc tấn công công bằng vũ khí nguyên tử từ nước ngoài. Một người Xéc bia tỵ nạn (giấu tên) đã trình báo với cơ quan có thẩm quyền của Anh về công trình bảo vệ tuyệt mật này. Theo nhân vật này thì ông Milosevic thường ẩn náu phần lớn thời gian trong ngày trong một ngôi sao nhà cao 16 tầng nằm sâu trong lòng đất. Có thể nói đây là một thành phố dưới đất có thể chứa khoảng 4 nghìn người và có đủ lương thực, nước uống trong nhiều tuần lễ. Bản thân tổng thống được một đội cận vệ gồm 50 người bảo vệ suốt ngày đêm. Ngoài ra còn có tin đồn thành phố ngầm này còn có cả doanh trại chứa hàng trăm binh sỹ và có một đường tàu điện ngầm riêng dài 3 km nối với sân bay quân sự Surcia. Theo lời người tỵ nạn thì công trình ngầm này nằm dưới các tòa nhà của chính phủ, được xây dựng hết sức kiên cố, gọi tắt là Lâu đài Liên bang. Vì vậy thành phố ngầm không thể bị bom đạn phá hủy. Tại ngôi nhà hầm này tổng thống Nam Tư Milosevic từng tiếp trưởng đoàn đàm phán Hoa kỳ Richard Hoolbrooke trước khi Mỹ và Nato tấn công Nam Tư bằng không quân.
Minh Tâm -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (25(77))1999.