Du lịch Cà Mau bao giờ thoát khỏi khúc quanh?

Trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Cà Mau là tỉnh giàu rất tiềm năng để phát triển các loại hình du lịch, trong đó phải kể đến chương trình du lịch về với đồng bằng. Trước hết, đó là vị trí đặc biệt, mảnh đất cuối cùng của tổ quốc. Cà Mau còn là vùng đất mang nhiều nét đặc thù với sông rạch ngang dọc, có đồng bằng mênh mông, có rừng, có biển. Cà Mau là nơi hội tụ của hai cánh rừng ngập nước lớn nhất thế giới ở sông Amazon của Brazin. Du khách đến Cà Mau ngồi xuồng máy hoặc ca nô lướt sóng theo hàng trăm ngả sông, xuôi theo dòng chảy để đến và xuyên qua vùng rừng ngập mặn, từ mé rừng ngập mặn ven biển vượt qua một khoảng không xa trên mặt biển Đông để đến đảo Hòn Khoai, một hòn đảo nằm ngoài khơ chót cùng Tổ quốc mà từ mé rừng nhìn ra trông giống như một củ khoai nổ bồng bềnh trên mặt biển. Hoặc cũng có thể theo các con sông ngược dòng chảy từ đầu nguồn đổ ra biển khơi, vượt qua sông Trem đến rừng U Minh Hạ, đến hòn Đá Bạc một vùng đá trắng nằm trên bờ biển giữa một vùng đất tân sinh với sông nối sông, đồng nối đồng. Thiên nhiên Cà Mau luôn mới mẻ, biến đổi mời chào khách phương xa với những chuyến du lịch điền dã đặc trưng. Tiềm năng là vậy, nhưng thực tế trong mấy năm qua và đặc biệt là trong dự án đầu tư du lịch Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ từ năm 1996 đến năm 2000, Minh Hải trước đây và Cà mau hiện nay lại không có tên trong danh mục đầu tư này. Vì thế đối với Du lịch Cà Mau, đầu tư của Trung ương chưa có, mà đầu tư từ ngân sách địa phương cũng chưa là bao. Hiện nay Cà Mau chưa xây dựng được tuyến du lịch nào, có chăng cũng chỉ mới là hoạch định thiếu tính khả thi, bởi chưa có được điều kiện đảm bảo của cơ sở hạ tầng, có một vài điểm du lịch thì lại không cho ngành Du lịch quản lý. Sân chim rừng tràm, rừng đước, di tích nhà hội đồng Trạch và huyền thoại về Công tử Bạc Liêu, khu nuôi tôm công nghiệp Duyên Hải, những ngôi chùa của đồng bào người Hoa, người Khmer sẽ là những làng rừng, vậy sao không có những làng rừng khách du lịch dừng chân với lò than đước đỏ hồng tôm nướng trước khi đến sân chim, vườn nhãn, rừng đước, rừng tràm thăm những tổ ong đang xây mật trước khi vượt sóng biển Đông đến Hòn Khoai, dạo chơi sân Tiên, thăm cốt cá ông, trên hòn Đá Bạc… đón được nhiều khách du lịch đến thăm quan sẽ tạo ra công ăn việc làm cho nhân dân địa phương, dịch vụ phục vụ du lịch sẽ phát triển, đó là điều chắc chăn. Và khi ấy, cũng chính những người khách du lịch sẽ mang đến cho vùng đất xa xôi Cà Mau những hiểu biết mới, những kiến thức mới. Đặc biệt qua sự giao lưu này sẽ đem đến cho Cà Mau những cơ hội hợp tác đầu tư về kinh tế. Du lịch Cà Mau không thể nằm mãi ở khúc quanh trong dòng chảy mà cần phải hòa vào dòng du lịch của cả nước, cần tập trung đầu tư khai thác thế mạnh kinh tế của một ngành công nghiệp không khói, biến ưu thế thiên nhiên ban tặng thành điểm đến của thiên niên kỷ. Nhưng hòa vào bằng cách nào?
Ngành Du lịch Cà Mau muốn đi lên sánh vai cùng bè bạn trong khu vực nhất thiết phải đọ sức với muôn vàn khó khăn và cần phải có thời gian. Bởi lẽ ngoài vấn đề đầu tư tôn tạo, khai thác các tuyến, điểm du lịch thì bên cạnh đó còn nhiều vấn đề khác cần được thực hiện đồng bộ như bổ sung nâng cấp các phương tiên tàu xe, đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên đủ tiêu chuẩn phục vụ khách quốc tế. Tổ chức mạng lưới Marketing, tuyên truyền quảng bá bằng nhiều hình thức…. Trước mắt, nếu thực hiện theo phương châm lấy ngắn nuôi dài nên tạo các điểm vui chơi giải trí dành cho khách du lịch nội địa là chủ yếu. Nhưng nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước và ngành chủ quản, cũng như thiếu sự hợp tác chặt chẽ của ngành hữu quan ở địa phương để giải quyết hàng loạt vấn đề khác như vốn đầu tư, bảo vệ môi trường, xây dựng xã hội lành mạnh, văn minh hoàn thiện cơ sở hạ tầng… thì việc phát triển cho nền công nghiệp không khói này sẽ còn lắm nhiêu khê. Du lịch Cà Mau bao giờ thoát khỏi được khúc quanh?.

Đọc tiếp Du lịch Cà Mau bao giờ thoát khỏi khúc quanh?

Công ty du lịch dịch vụ Gia Lai năm 1999, doanh thu là 11,5 tỷ đồng

Năm 1999, Công ty du lịch – dịch vụ Gia Lai đã tập trung đầu tư nâng cấp cơ sở khách sạn, xây dựng các tuyến điểm tham quan dã ngoại, xây dựng làng văn hóa để phục vụ nhu cầu tham quan, tìm hiểu văn hóa Tây Nguyên cho du khách. Nhờ vậy, trong năm đã thu hút được 24 nghìn khách, trong đó khách quốc tế có 3 nghìn lượt. Số ngày khách lưu trú bình quân là 2,2 ngày cho một khách. Doanh thu cả năm đạt 11,5 tỷ đồng, vượt 5% so với kế hoạch. Ông Nguyễn Tấn Thành giám đốc Công ty cho biết: “Năm 2000, dự kiến mức tăng trưởng của Công ty sẽ đạt trên 20% về vượt khách và doanh thu.
Một số cách phòng say xe
Có những người vừa ngồi lên xe đã nhức đầu, hoa mắt buồn nôn, thậm chí còn toát mồ hôi, huyết áp hạ. Làm thế nào để đề phòng trước hiện tượng say tàu xe? Mặc dù có người trước khi lên xe đã uống thuốc chống nôn nhưng không hiệu quả lắm. Vậy trước khi lên xe, bạn đừng ăn quá no, vì ăn quá no sẽ làm dạ dày khó chịu, dẫn đến nôn mửa, nhưng cũng không được để mình quá đói, vì đói sẽ làm hạ đường huyết, bạn sẽ bị váng đầu, đổ mồ hôi. Khi lên tàu cố gắng tìm cho mình một chỗ ngồi phía trên đỡ bị xóc và nhất thiết không được nhìn ra ngoài cửa sổ để tránh hoa mắt nhức đầu do các vật bên ngoài chạy quá nhanh. Nên thắt lưng cho chặt để giảm bớt sự chấn động của cơ quan nội tạng và trước khi lên xe bạn hãy giã nát 50 gừng sống trộn với đường trắng ăn hoặc ngâm có ô mai gừng càng tốt. Đắp một lát mỏng gừng tươi lên rốn rồi lấy băng y tế dán chặt. Hãy luôn cầm một lát gừng sống đưa lên mũi ngửi khi ngồi trên xe. Thực hiện đúng như thế bạn đã phòng được say tàu xe một cách rất hiệu quả.
Nhật Bản những ngôi đền Angkor giấc mơ thiên niên kỷ
Một nhà thầu khoán nguyên là thầy tu, ông Ros Sarin, 60 tuổi đang cho xây dựng một bản sao, vĩ đại của ngồi đền Angkor Wat gần 1000 năm sau sự khởi đầu của nguyên bản.
Qua hai năm người ta đã có thể được chiêm ngưỡng những ngôi tháp hình chóp của một Angkor chỉ cách thủ đô Phnom Penh khoảng 40 km và cách ngôi đền gốc 300 km về phía nam. Angkor Wat là linh hồn của dân tộc Campuchia, là biểu tượng của sự ổn định vĩnh cửu. Ngôi đền mới này về kích thước nhỏ hơn nhiều so với bản gốc. Nó chỉ có ba tháp hình chóp và được xây dựng bằng bê tông chứ không phải đá tảng lớn. Mặc dù vậy, ngôi đền mới này đã nhanh chóng trở thành địa điểm lý tưởng cho những cuộc viếng thăm của du khách và người dân Campuchia vào những ngày chỉ cuối tuần. Hiện đã có 21 thầy tu tới trụ trì tại ngôi đền mới này. Không như ngôi đền gốc được xây dựng trong thời gian hàng trăm năm và sử dụng hàng nghìn người nô lệ, ông Ros Sarin cho xây dựng ngôi đền mới này chỉ trong vòng 2 năm với sự giúp đỡ nhiệt tình của 34 người thợ lành nghề với nguồn kinh phí gần 2 triệu đô la Mỹ từ tiền quyên góp. Ông cũng đang dự kiến cho xây dựng tại đây những ngôi đền mới nữa.
Vân Thiêng -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 8(112)2000.

Đêm giao thừa của Thiên niên kỷ

Năm 2000, đêm giao thừa của thiên niên kỷ là điểm hẹn của du khách đến với miền đất đầy ấp tiềm năng du lịch và bao công trình văn hóa, di tích lịch sử đang được thế giới lần lượt công nhận như điểm sáng văn hóa. Đền nay trên dải đất anh hùng và mỹ lệ đã có 4 di sản được công nhận, nằm trong sự bảo tồn của thế giới. Đây không chỉ là niềm tự hào của dân tộc được kết tinh qua nhiều thế kỷ, mà còn là điểm đến của nhiều du khách trên hành tinh này. Năm 2000, Ủy ban quốc gia về du lịch đã chọn 15 lễ hội về văn hóa tiêu biểu để thu hút du khách, mỗi lễ hội mang sắc thái văn hóa, gắn với đời sống tâm linh của mỗi người dân được thế giới ngưỡng mộ. Năm cuối cùng của thế kỷ 20, trên đất nước ta diễn ra bao sự kiện trọng đại 70 năm ngày thành lập Đảng, 55 năm thành lập nước Việt Nam, 110 năm ngày sinh nhật của Chủ tịch Hồ Chí Minh và 990 năm Thăng Long – Hà Nội. Đối với ngành du lịch Việt Nam vừa tròn 40 tuổi xây dựng và trưởng thành. Sự kiện đã làm cho khí thế dân tộc được nhân lên, hoạt động của ngành được mở rộng, mỗi doanh nghiệp có điều kiện để phát huy thế mạnh của mình. Thế kỷ 21 là sự phát triển khổng lồ của khoa học, công nghệ của trí tuệ còn người (Lời phát biểu của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu với liên đoàn báo chí Asean, thì dịch vụ cũng là mục tiêu phục vụ con người, mà du lịch là thành phố. Các dịch vụ sẽ làm du khách hài lòng, bằng những sản phẩm hấp dẫn, bằng nghệ thuật ẩm thực của mỗi miền, bằng các cuộc tham quan bổ ích và lý thú, chiêm ngưỡng các di tích lịch sử danh lam thắng cảnh, hiểu chiều sâu đất nước. Chuyến du hành đầu năm theo chân khách đến với mọi miền đất nước nghe hơi thở tưng bừng từ lòng đất tiếng trống đòng ngân vang như gọi hồn dân tộc, trở về với thời khắc giao thừa của thiên niên kỷ càng thêm yêu mảnh đất hiên hòa, giàu tính nhân văn, đã làm nên bao điều kỳ diệu trong thế kỷ 20 và sẽ rạng rỡ trong thế kỷ 21. Điểm đến của thiên niên kỷ là kho tàng các chiến tích và bao dấu ấn lịch sử khó quên đọng lại trong thế kỷ 20 và càng nổi bật ở các năm cuối như khẳng định chân lý không có quý hơn độc lập tự do mà Việt Nam là một tiêu điểm. Dấu son của thế kỷ 20 này, ta rạng rỡ như ngọn hải đăng, nhưng cũng phải gồng mình chịu đựng những trận cuồng phong bão táp. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tẹ trong khu vực đã ảnh hưởng không ít đến ta về thị trường về giá cả và nguồn khách, nhưng chúng ta đã không bị sa lầy và bước ra khỏi, đang xác lập cho mình mối quan hệ song phương và đa phương với du lịch thế giới. Kỳ với chính phủ Cuba Hiệp định về du lịch ngày 14 tháng 12 năm 1999 là một minh chứng vươn lên tìm kiếm thị trường. Năm 1999 khách quốc tế có khả năng đạt và vượt mức kết hoạch đề ra, chỉ có điều cơ cấu lại nghiêng về khách có nhu cầu thanh toán không cao. Sự bươn trải của ngành của các doanh nghiệp đôi lúc phải chớp thời cơ, chiếm lĩnh thị trường khai thác nguồn khách, nâng cao hệ số sử dụng phòng, bố trí cơ cấu đầu tư, phát huy hiệu quả nguồn vốn… Có thể nói, năm 1999 qua đi để lại cho du lịch những kinh nghiệm về khai thác thị trường trong nước và khu vực, về phát huy nội lực có mức tăng trưởng và khả năng cạnh tranh trên thị trường du lịch thế giới. Bước vào năm 2000, với không khí tưng bừng của đất nước, sẽ thổi vào du lịch ngọn gió lành từ Ban chỉ đạo quốc gia về du lịch, đã tháo gỡ cho ngành Du lịch những trở ngại trên con đường phát triển, đó là thủ tục xuất nhập cảnh, là mối quan hệ liên ngành và quan hệ bên trong của quá trình vươn lên tiến kịp với trào lưu bên ngoài. Vào thời điểm của thiên niên kỷ mới, sẽ cho ta tầm nhìn mới về một ngành còn ẩn chứa nhiều tiền năng nhưng cũng xuất hiện những nguy cơ. Đó là hệ thống khách sạn vừa thừa, vừa mất cân đối giữa các loại sao, lại xuống cấp nhanh chóng ở các thành phần kinh tế khác. Kết cấu hạ tầng cơ sở đến các tuyến điểm du lịch, tuy được chỉnh trang, bổ sung song nguồn vốn hạn hẹp đã mau chóng xuống cấp. Cộng với sự tàn phá của thiên niên, bất kỳ lúc nào cũng có thể ập đến, mà sự hủy hoại về du lịch, khắc phục nó lại phụ thuộc rất lớn vào nguồn vốn của ngành. Những khó khăn đố là hiện thực nếu không nhận thức được, có giải pháp khắc phục sẽ bị cáo nước trong khu vực bỏ xa ta, trong lúc sự việc hiện đại hóa của nước này đang vật lộn với thời gian để giành lấy ưu thế cho du lịch. Điểm đến của thiên niên kỷ đang gây phấn chấn cho ngành và bao du khách, nó còn dấy lên truyền thống ngành được kết tinh lại sau bốn thập kỷ thăng trầm. Những gì đã qua còn như dặn lại hôm nay rằng dù có thất bại cũng là bài học vô giá cho ai có tâm huyết với ngành. Chúng ta phải nhanh chóng bắt nhịp với thời gian, sao cho du lịch Việt Nam là điểm sáng của các nước trong khu vực và thế giới. Năm 2000, sẽ là năm đặt ra bao dự tính lớn lao đối với ngành, khó khăn thuận lợi đan xen, song truyền thống của 40 năm sẽ được nhân lên trong thế kỷ 21.
Doãn Quang Thiện -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 7(111)2000.

Sách của Hê Minh Uê

Nhịp đón xuân, một cửa hiệu bán đồ trang sức ở Mỹ, gửi tới nhà văn Hê Minh Uê một hộp Cravat, kèm theo một bức thư ngắn: “Kính thưa ngài Hê Minh Uê, Cravat sng trọng của chúng tôi, chỉ những người nổi tiếng mới dùng. Chúng tôi xin gửi đến ngài một tá và đề nghị ngài vui lòng cho chúng tôi 20 đô la”. Vài hôm sau, chủ hiệu nhận được một cuốn sách do nhà văn Hê Minh Uê gửi tới, cùng kèm theo một bức thư ngắn: “Sách của tôi, chỉ những ai đeo Cravat của ngài đọc thì mới thích hợp. Sách giá là 28 đô la Mỹ. Vậy xin ngài vui lòng bù lại cho tôi 8 đô la Mỹ”.
Rat and Tod với Dr. Plog
Bài trước, chúng ta đã có khái niệm về Rat and Tod. Dr Stanley C. Plog trong công trình của mình tại sao lượng khách tăng, giảm tại các điểm đến nghên cứu tính đại chúng, tinh phổ biến sự ưa chuộng của quần chúng đối với các điểm đến du lịch. Căn cứ theo giản đồ tâm lý, ông đã phân người Mỹ theo phổ liên tục từ người tập trung vào tâm lý (A) đến người tập trung vào đủ loại vấn đề. Kết quả phân tích của ông thể hiện như sau:
Ông đã điều tra và xác định các động lực thúc đẩy các nhóm người đi du lịch và mối quan hệ với điểm đến du lịch. Chúng ta cũng tham khảo kết quả của ông về động lực đối với từng nhóm:
Nhóm B:
Giáo dục và văn hóa người hướng dẫn là những chuyên gia, người thuyết trình.
Nghiên cứu về phả hệ của con người, sinh vật, ngôn ngữ.
Tìm tòi sự kỳ lạ, ngoại lai. Chơi bạc, thỏa mãn những cảm xúc về quyền lực và tự do. Mở rộng các mối quan hệ bạn bè ở nước ngoài. Làm sâu sắc thêm những hiểu biết về tương lai. Hoạt động chính trị, tranh luận chính trị, bầu cử… Có nơi ở định kỳ thứ hai và chế độ công quản.
Nhóm gần B:
Hành hương tôn giáo. Tham các sự kiện hoặc các hoạt động thể thao. Du lịch mạo hiểm mang tính tìm tòi. Công tác, kinh doanh, hội nghị, hội thảo… âm nhạc và các hình thức giả trí khác. Cơ hội để thử về một lối sống mới.
Nhóm trung gian
Nghỉ ngơi thoải mái, vui vẻ. Thỏa mãn các mối quan hệ riêng với bạn bè, gia đình. Tăng cường sức khỏe. Thay đổi cuộc sống trong một khoảng thời gian. Cơ hội để thoát khỏi những vấn đề trong cuộc sống thương nhật. Sự quyến rũ của điểm đến. Sự đánh giá cao về những giá cao về những giá trị mỹ học của điểm đến. Sự ham mê về cảm xúc ẩm thực, sự thuận lợi, nghỉ ngơi, lãng mạn. Mua bán quà lưu niệm, vật quý… Thích thú với phương tiện giao thông: máy bay, tàu thủy, tàu hỏa tốc hành… Thoải mái với một chương trình được tổ chức tốt và được giới thiệu trước. Lý do gia đình hoặc cá nhân.
Nhóm A và gần A
Sự đề cao cái tôi, những vấn đề về địa vị. Để thỏa mãn những đòi hỏi của xã hội. Du lịch như một chuẩn mực về văn hóa, về luật pháp. Thăm những nơi được biết đến qua thông tin, báo chí. Thăm các công viên vui nhộn để tiêu khiển, giá trị.
Xin cám ơn Ngài C. Plog.
BHB -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 5 (109)2000.

Kế hoạch chuyến du lịch vũ trụ đầu tiên năm 2002

Cho tới hôm nay khi nhiều người vẫn coi du lịch vào vũ trụ là điều mơ ước xa xôi thì một Công ty ở Mỹ đã bắt tay thực hiện với một kế hoạch đầu tư cho du lịch vũ trụ khổng lồ. Họ đã cho ra đời những tuyến du lịch vũ trụ ngay từ năm 1997 và dự kiến từ 3 tới 5 năm sau sẽ đưa người đi du lịch vũ trụ. Dưới đây là kế hoạch chuyến du lịch vũ trụ đầu tiên trong 7 ngày của Công ty du lịch Mỹ nổi tiếng ở Settle – công ty Zegrahm Space Voyages. Họ đã hợp tác với công ty Vela Techlogy Development lnc chuyên đóng tàu vũ trụ để thiết kế con tàu du lịch trong 7 ngày, dự kiến trong 7 năm 2002 đón tốp du lịch đầu tiên lên vũ trụ. Do du lịch vũ trụ khác trên mặt đất nên trong chương trình 7 ngày có 5 ngày đầu du khách được huấn luyện bay trong thiết bị mô phỏng để chịu được trạng thái không trọng lượng tạo điều kiện cho du khách hưởng thụ mọi điều kỳ thú trong quá trình bay. Sau 5 ngày chuẩn bị và huấn luyện, ngày cuối cùng là ngày quan trọng nhất bay vào vũ trụ. Lúc này chiếc tàu Space Cruiser sẽ đưa du khách xuyên qua tầng khí quển, đạt tới độ cao là 100 km được gọi là độ cao người vũ trụ theo tiêu chuẩn Mỹ. Tại đây du khách sẽ được hưởng trạng thái không trọng lượng trong 2 phút rưỡi và tận mắt ngắm nhìn trái đất từ trên vũ trụ. Với 2 phút rưỡi ngắn ngủi này bạn đã phải trả tới 98 nghìn đô la Mỹ, thật là một chuyến du lịch tốn kém nhất thế giới hiện nay. Tuy nhiên chi phí này ngoài bao quát cho toàn bộ chuyến đi với việc ăn, ở cùng sự thể nghiệm du lịch vũ trụ, Zegrahm còn sắp xếp người đưa đón bạn tới tận khách sạn một cách an toàn. Ngoài ra còn chi phí cho quần áo bay. Bạn sẽ được phát 2 bộ, một bộ dùng để khi huấn luyện và mặc trong khi bay vào vũ trụ, một bộ tặng bạn làm kỷ niệm chuyến đi. Tiếp đó trong ngày cuối cùng công ty còn có nhã ý mời bạn xơi bữa tiệc chia tay cùng với nhiều vật kỷ niệm bao gồm huy hiệu Astronaut Altitude Wings và một giấy chứng minh du lịch vũ trụ để bạn ghi nhớ mãi chuyến du lịch kỳ thú có một không hai này. Để đảm bảo chuyến bay an toàn, Zegrahm yêu cầu trẻ em dưới 16 tuổi không được tham gia. Du khách đăng ký cũng cần có chứng thực lành lặn, không có khuyết tật và tham gia kiểm tra sức khỏe bảo đảm thể trạng đáp ứng yêu cầu lên vũ trụ.
Phương pháp bay và tuyến đường
Công cụ giao thông sử dụng cho chuyến du lịch là tần vũ trụ “Space Cruiser” kết hợp cùng chiếc Space Lifter hình thành tổ hợp Space Cruiser System mỗi chuyến tàu chở được 6 hành khách và 2 phi công, bay trong 2.30 phút. Mỗi chỗ ngồi đều có cửa sổ để du khách ngắm cảnh vũ trụ.
Cất cánh cả 2 chiếc Space Cruiser và Space Lifter cùng kết hợp cất cánh. Tách nhau khi tới độ cao 60 km, Space Cruiser và Lifter tách khỏi nhau, khởi động máy của Space Cruiser để đưa lên độ cao là 100 km còn Space Lifter trở về trái đất.
Tăng tốc cho Space Cruiser.
Khi tới độ cao là 100 km du khách sẽ đượ hưởng 2,5 phút trạng thái không trọng lượng và ngắm nhìn trái đất từ trên vũ trụ.
Space Cruiser giảm tốc độ chuẩn bị trở về trái đất.
Xuyên qua tầng khí quyển, hạ cánh an toàn ở vị trí cũ.
Ngoài công ty Zegrahm, hiện nay tại Mỹ còn có công ty Space Adventures Inc cũng chuẩn bị lấy khách cho chuyến bay vào vũ trụ sau từ 3 đến 5 năm. Tuy nhiên hộ chưa đưa ra được ngày giờ cụ thể cho chuyến bay đầu tiên, song lại đã nhận tiền đặt cọc cho mỗi du khách là 6 nghìn đô la mỹ để khi có chuyến bay là được đi ngay. Space Adventures còn thành lập cả hội Steps To Space Astronaut Club để thực hiện dần kế hoạch du lịch vũ trụ. Sức hấp dẫn của hội là ở chỗ khi đã trở thành hội viên, hội sẽ cử một số cố vấn vũ trụ tới giúp đỡ bạn huấn luyện bay trong trạng thái không trọng lượng, giải đáp các thắc mắc về vũ trụ và giúp bạn chuẩn bị cụ thể cho chuyến bay sắp tới. Với những hạng mục phục vụ trên, Steps To Space Adventures Culb đòi hỏi bạn đóng khoản lệ phí cao là 25 nghìn đô la Mỹ khi vào hàng năm phải đóng tới 10 nghìn đô la Mỹ, khi có chuyến bay cụ thẻ bạn còn phải đống phí du lịch là 20 nghìn đô la Mỹ nưa. Khoản đóng góp này chỉ dành cho 100 người đầu tiên. Rõ ràng bạn có tiền cũng chưa chắc được đi du lịch vũ trụ nếu bạn chậm chân. Space Adventures sử dụng loại tàu vũ trụ Ascender, mỗi lần có thể chở được 4 hành khách.
Tu Duy -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (9+10+11+12)2000.

Năm 2000 du lịch Kon Tum có gì mới?

Trong một lần trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Tân Quyết, giám đốc Sở Thương mại – Du lịch Kon Tum khẳng định: “Kon Tum tuy không lớn mạnh về du lịch như các tỉnh khác, song Kon Tum có một sức hấp dẫn riêng đối với du khách muốn tìm hiểu về Tây Nguyên. Đây là vùng đất có tài nguyên thiên nhiên, môi trường phong phú, đa dạng có nền văn hóa các dân tộc rất đặc sắc và nhiều di tích lịch sử, khảo cổ quan trọng. Nếu biết khai thác có hiệu quả thế mạnh này, Du lịch Kon Tum sẽ có một diện mạo riêng”. Thật vậy, tuy vẫn còn một số hạn chế nhất định nhưng Du lịch Kon Tum mấy năm gần đây đã có những chuyến biến khá. Lượng khách du lịch đến Kom Tum ngày một nhiều hơn, doanh thu năm 1998, trên 4 tỷ đồng. Năm 1999 tuy chịu ảnh hưởng của nhiều lý do khách quan song nhịp độ tăng trưởng vẫn giữ được như năm 1998. Ngành Du lịch tỉnh Kom Tum đã biết tận dụng thế mạnh của địa phương để khai thác phục vụ khách du lịch, cơ sở vật chất bước đầu đã đáp ứng nhu cầu ăn nghỉ của du khách. Từ những kết quả của những năm trước, Chương trình hành động du lịch, năm 2000 của tình đã xác định sản phẩm du lịch chính của Kom Tum
Là du lịch văn hóa lễ hội các dân tộc du lịch sinh thái và du lịch chiến trường xưa. Để thực hiện chương trình này, ngay từ năm 1999, Công ty du lịch Kom Tum
Dã chọn làng Konkotu xã Đắc cơ va thị xã Kom Tum ngôi làng một nhà rông nguyên mẫu của bà con dân tộc Ba Na, cách thị xã Kom Tum không xa. Tại đây, Công ty đã đầu tư bước đầu 30 triệu đồng để xây dựng giếng nước, nhà tắm, nhà vệ sinh, mua sắm dụng cụ phục vụ khách nghỉ lại. Qua 1 năm đưa vào khai thác, tuyến du lịch văn hóa này đã trở thành một địa chỉ không thể thiếu của hầu hết khách du lịch quốc tế đến Kom Tum. Tại đây du khách được tham dự đốt lửa, xem biểu diễn cồng chiêng, uống rượu cần, ca múa với đông bào dân tộc. Nếu khách yêu cầu xem lễ hội đâm trâu thì phải tốn thêm tiền mua trâu, Công ty sẵn sàng phục vụ. Từ những tháng cuối năm 1999, Công ty đã đầu tư xây dựng cầu treo qua sông Đakbla dài 180 mét, dự kiến sẽ hoàn thành trong tháng 1 năm 2000 để kịp đưa vào khai thác trong dịp tết. Làng văn hóa Kon ko tu nằm gần sông, khách du lịch sau 1 ngày đi dạo trong rừng trở về làng về vượt sông bằng cây cầu treo sang bờ bên kia để tắm sông tại một bãi cát trắng tuyệt đẹp, tận hưởng bầu không khí thoáng đãng của đất trời Tây Nguyên trong ánh ráng chiều. Màn đêm buông xuống khách trở về nhà rông sinh hoạt cồng chiêng, vui chơi ca hát rồi ngủ tại nhà rông của làng. Đây là một tour rất hấp dẫn với du khách. Năm 2000 sẽ là năm du lịch Kom Tum có nhiều chuyển biến cơ bản sau khi đưa vào khai thác tuyến du lịch trên sông Đakbla. Công ty du lịch tỉnh đã đầu tư 500 triệu đồng để đóng mới 2 thuyền du lịch, xây dựng cầu ra sông, mua sắm trang thiết bị để phục vụ khách du lịch ngày từ tháng 1 năm 2000. Từ thị xã Kom Tum du khách xuống thuyền theo dòng Dakbl đi tham quan nhà máy thủy điện Yaly, thăm các ốc đảo lạ ngập nước trong lòng hồ, ghé thăm các lạng đồng bào dân tộc, thưởng thức ca nhạc cồng chiêng, uống rượu cần… trên tuyến này khách có thể thăm khu bảo tồn Chư moray, tham quan khu nàh mồ của làng Rắc một khu nhà mồ đẹp nhất còn được bảo vệ hiện nay, tham quan làng Lung Leng một di chỉ khảo cổ học vừa được khai quật trong năm qua. Có thể nói đây là sản phẩm du lịch chính của Kom Tum trong năm 2000 và những năm sau. Ngoài ra Kom Tum cũng là nơi còn nhiều di tích chiến tranh trong 2 cuộc kháng chiến cứu nước cũng rất thu hút khách như ngục Kom Tum, chiến trường Đắc Tô Tân Cảnh, Ngã ba Đông Dương, đường Hồ Chí Minh. Các kiến trúc tôn giáo như Tòa giám mục, nhà thờ gỗ Kom Tum… cũng luôn thu hút sự chú ý của khách du lịch. Anh Huỳnh Đức Tiến giám đốc Công ty Du lịch Kom Tum tâm sự: “Chúng tôi rất tin tưởng vào những dự án mà mình đang thực hiện. Trong thời gian tới, nếu dự án làng du lịch ven sông Dakbla được triển khai, sản phẩm du lịch của Kom Tum sẽ phong phú thêm. Và sau khi triển khai nâng cấp khách sạn Quang Trung thành khách sạn 2 sao, cùng với khách sạn Dakbla, sẽ bảo đảm cơ bản nhu cầu lưu trú của khách du lịch. Du lịch Kom Tum từ năm 2000, sẽ có những bước chuyển cơ bản. Kom Tum sẽ là một điểm đến quan trọng trong những chuyến du lịch của du khách mỗi dịp đến Tây Nguyên.
Vân Thiêng -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 5(109)2000.

Một ngày trên núi Bà Đen

Núi Bà Đen nằm cách thị xã Tây Ninh 15 km về phía đông bắc. Núi không cao lắm với 986 mét, nhưng trông thật hùng vĩ vì núi nằm trên một vùng đồi thấp hoặc lượn sóng tựa như núi Tam Đảo, núi Ba Vì nằm tiếp giáp với đồng bằng Bắc Bộ. Núi Bà Đen còn có nhiều tên gọi khác như núi Bà Đinh, núi Điện Bà, Linh Sơn. Đỉnh núi thường có mây che phủ nên người dân trong vùng còn gọi là Vân Sơn. Núi Bà Đen cấu tạo bởi đá hoa cương, một loại đá mắc ma ở sâu trong lòng đất, đi lên phía trên do sức ép kiến tạo của lớp vỏ trái đất. Đá hoa cương là loại đá rất cứng song khi ra khỏi mặt đất, do chịu ảnh hưởng của sự thay đổi nhiệt độ ngày, đêm và theo mùa mà bị vỡ nứt ra thành các khối, lớn như một gian phòng, một đống rơm, hoặc bằng một chiếc xe du lịch và to hơn nữa. Sau đó theo quy luật phong hóa của loại đá này (phong hóa đồng tâm) mà chúng biến thành các đá tảng không góc cạnh, mặt nhẵn nhụi.Vì lý do đó mà trên đường leo núi ta gặp vô số những tảng đá nằm rải rác ở bên đường, đôi khi tập trung lại thành các bãi đá, hòn nào cũng nhẵn nhụi tựa như những viên cuội khổng lồ. Do quy luật phong hóa riêng biệt của đá hoa cương mà núi Bà Đen có nhiều hang hốc. Trên đường lên chùa Linh Sơn, ở độ cao là 280 mét du khách bắt gặp một hang khá rộng. Song các hang ở đây lại không có thạch nhũ như ở các hang động đá vôi vì ở đây không có hiện tượng kết tủa các bô nát can – xi. Tài nguyên thiên nhiên trên núi Bà Đen khá phong phú. Nơi đây có đặc sản khá độc đáo, đó là món thằn lằn núi nổi tiếng mở ở các địa phương khác trong cả nước ta không nơi nào có Thằn lằn núi kiếm ăn trong suốt mùa mưa và đến đầu mùa khô chúng béo mập, tụ tập lại thành đàn rất đông trong các hang hốc của núi đá. Vì vậy cứ đến mùa khô, người dân ở quanh vùng rủ nhau lên núi Bà Đen câu thằn lằn. Ở quanh các hang hốc, nơi nào có nhiều vết trắng như vôi rải đều trên mặt đá là chắc chắn thằn lằn níu kéo về đồn ấn nấp. Người đi câu dùng mồi là sung hoặc mít, chuối chín, chà đều lên rồi ném vào hang. Một lúc sau nghe thấy tí tách, bộp bộp đó là lúc thằn lằn ngửi thấy mùi thơm và nhảy ra tranh nhau ăn. Lúc này người đi câu chỉ cần đưa cần câu có thòng lòng, tròng vào cổ từng con rồi nhấc lên. Mỗi buổi câu như vậy thường được 1 đến 2 kg đến 50 đến 100 con, người câu giỏi được tới 24 kg trong một ngày, mỗi kg giá khoảng trên dưới 20 nghìn đồng. Thằn lằn núi là món đặc sản hấp dẫn và chế biến ra các món như xào lăn, chiên giòn, băm nhỏ trộn với thịt ba dọi, thằn lằn ướp gia vị phơi khô rồi chiên giòn… Thằn lằn núi Bà Đen, bán rất chạy. Nhiều nhà hàng phải đặt cọc tiền trước mới mua nổi. Món đặc sản này còn xuất sang cả Trung Quốc, Campuchia. Vì vậy cứ đến mua khô, người đi câu trên núi Bà Đen rất đông và câu cả những con nhỏ. Thằn lằn núi sinh sản rất nhanh, nhưng hiện nay cũng đã thấy hiếm và có nguy cơ bị tuyệt chủng. Rừng trên núi Bà Đen có nhiều cây gỗ quý thuộc họ Dầu như Dầu rái, Dầu nước, Dầu lông, Dầu trà beng, Dầu chai, Sến cát, Cẩm liên… Núi Bà Đen nằm lọt trong một vùng quần cư khá đông đúc, kinh tế trù phú. Trên những dải đất đỏ Bazan là những nông trường cao su bạt nghìn. Đất đỏ Bazan là một loại đất tốt, tầng đất dày tới 10 đến 15 mét và rất phù hợp với việc trồng các cây công nghiệp. Ngoài cao su ra, người ta còn trồng hồ tiêu, cà phê. Ngoài đất Bazan, ở phía nam núi Bà Đen là dải đất phù sa cổ. Đất có màu xám, rất thuận lợi cho việc trồng các cây ăn quả. Núi Bà Đen còn là nơi du lịch đối với người dân các tỉnh lân cận như Sông Bé, Long An, Đồng Tháp… Ngay đối đối với thành phố Hồ Chí Minh mặc dầu cách xa tới 111 km, người ta vẫn rủ nhau lên núi Bà Đen vào ngày chủ nhật, sáng đi sớm và đến tối lại có mặt ở bữa ăn tối cùng gia đình. Họ rủ nhau lên núi để hít thở không khí trong lành và mát mẻ vì khi lên tới độ cao từ 400 đến 500 mét, không khí đã mát rượi, trong khi ở thành phố lại nóng như nung người. Ngoài ra, ở một độ cao nào đó trên núi Bà Đen, nhất là ở đỉnh núi, tầm mắt người ta có thể phóng nhìn rất xa khắp đồng bằng Nam Bộ, Tây Nguyên, Biển Đông và vịnh Thái Lan. Chính do vị trí lợi hại như vậy mà trước đây Mỹ đã xây dựng một trạm cơ sở thông tin và quan sát lớn. Mỹ ngụy quyết giữ đến cùng nhưng đã bị quân ta san bằng và chiếm lấy đỉnh núi. Vào những ngày 15 âm lịch hàng tháng, người dân trong vùng rủ nhau đi rất đông tới lễ ở chùa Linh Sơn. Người đi bộ, người đi xe máy, nườm nượp chen chúc nhau đi lên chùa. Có nhiều cụ già được con cháu dìu lên núi. Ngoài những người dân ở quanh vùng lại còn nhiều người ở xa, tận thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ… cũng tới lễ. Mặc dầu đường lên núi đã được lát đá thành bậc, song việc leo núi cũng vất vả. Hiện nay ta đã xây dựng hệ thống xe điện cáp treo trên không và đã hoàn thành đưa vào sử dụng từ đầu năm 1998. Du khách đi trên xe điện cáp treo vừa đỡ mệt, lại vừa được ngắm toàn cảnh núi non, sông nước quanh vùng.
Nguyễn Thái – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (9+10+11+12)2000.

Sức sống mới của Du lịch Đồng Tháp

Ngành du lịch Đồng Tháp trong một năm qua đã ngủ một giấc khá dài, và chìm trong cơn mộng án binh bất động. Nguyên nhân chính là suốt từ ngày 1 tháng 4 năm 1999 đến ngày 24 tháng 4 năm 2000 ngành Du lịch Đồng Tháp loay hoay với việc quyết định sự tồn tại của đơn vị kinh doanh trực tiếp: Công ty Du lịch và xuất nhập khẩu Đồng Tháp. Khách quan mà nói, quyết định giải thể Công ty Du lịch và xuất nhập khẩu Đồng Tháp trước đây, đặt ra cho ban lãnh đạo thẩm quyền ở tỉnh này nhiều điều trăn trở và nan giải. Nhưng cuối cùng cái gì đến ắt phải đến, và hậu quả của nó cũng không thể tránh được. Tóm lại không có gì để bàn cãi khi cơ ngơi của đơn vị này đã bị khánh kiệt. Có điều nếu nhìn sự nghiệp của một ngành ở địa phương thì vẫn có chuyện để mà ngẫm ngợi. Đó là việc để kéo dài tới một năm cảnh cửa đóng then cài, dậu đổ bìm leo hoang vắng. Gần 100 anh em tập thể Cán bộ công nhân viên Công ty đã từng gắn bó với đơn vị trong suốt thời gian dài, giờ đây chỉ còn biết nuối tiếc, mong ước nhỏ nhoi biết bao giờ trở lại chốn xưa, nơi mà họ đã một thời say mê vun đắp. Còn nữa những du khách và những bạn hàng trước đây cũng không tránh khỏi sự ngỡ ngàng trong bơ vơ. Trong bối cảnh đó, sự ra đời của Công ty Du lịch Đồng Tháp vào tháng 4 năm 2000, không chỉ là sự hồi sinh mà thực sự là một tin vui, là tín hiệu xanh đưa ngành du lịc Đồng Tháp cất cánh. So với bối cảnh và xu hướng của ngành Du lịch Việt Nam hiện nay, Du lịch Đồng Tháp có hơi chậm, nhưng không có nghĩa là muộn màng, vì đây Du lịch Đồng Tháp cần phấn đấu hơn nữa, bù lại khoảng trống một năm qua bị dâm chân đứng lại. Quyết định thành lập Công ty Du lịch Đồng Tháp của các cấp thẩm quyền tỉnh Đồng Tháp trong thời gian vừa qua là một điều hoàn toàn đúng đắng và đáng khích lệ vì đã sớm xác định, nhận rõ vai trò và trách nhiệm của mình trên tinh thần chủ động thực hiện định hướng của Đảng chủ trương của Nhà nước phát triển du lịch ở Đồng Tháp. Từ tin vui trên, tin chắc rằng những địa danh tham quan ở Đồng Tháp như: Rừng Xẻo Quit tràm chim Tam Nông, khu vườn hồng Sa Đéc, Gò Tháp Mười, Lăng Cụ Phó Bảng… Đặc biệt du lịch dã ngoại trên sóng nước Đồng Tháp cũng sẽ sinh động, khởi sắc hơn bởi lẽ thiên nhiên không thể thiếu con người và ngược lại.
Đính chính
Báo Du lịch số 34 ra ngày 23 tháng 6 năm 2000, bài Tiền đề hiện đại hóa công tác đào tạo nghiệp vụ khách sạn, trang 5, cột 4, dòng 4 trên xuống, xin sửa lại là “Với số tiền tài trợ là 120 triệu LuF…” Thành thật xin lỗi Ban quản lý Dự án và bạn đọc.
Thúy Chiều -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (35(139))2000.

Thị trường vàng trắng trên thế giới lại sôi động

Vàng trắng trên thế giới không những chỉ là ngà voi mà còn nhiều loại khác:
Loại mam út: Hàng triệu cặp ngà mamut còn bị vùi dưới các lớp băng tuyết ở miền Bắc Xiberi. Người Nga khai thác những cặp sừng mamut bằng cách sưởi nóng cho băng và tuyết tan. Vào thời băng hạ đệ tứ, cách nay là 13 nghìn năm, vùng Xiberi lạnh đi hàng triệu con mamut bị chết và bị vùi lấp trong băng tuyết. Ngày nay các nhà thám hiểm còn dùng thịt những con mamut để nuôi chó. Mamut là một loại voi lớn, mình phủ đầy lông và có những chiếc ngà cong dài tới trên dưới một mét.
Loại móc xơ. Con móc xơ là một loại động vật có vú, sống dưới biển. Cho hết thế kỷ 19 người Nhật khai thác răng những con móc xơ để làm đồ mỹ nghệ. Ngày nay việc khai thác này đã bị cấm.
Loại cá nhà táng những người săn cá voi thường lợi dụng thời gian nhà rỗi để gọt, mài, khảm các răng cá nhà táng để làm các vật gia dụng và mỹ nghệ như con lăn nhào bột làm bánh, khuôn bánh ga tô, tượng phụ nữ. Mặt hàng này bán rất chạy ở u – Mỹ. Nhiều nhà sưu tập ưa chuộng mặt hàng này.
Loại hải cẩu: Răng hải cẩu là một loại ngà có hạt nhỏ hơn ngà voi. Việc khai thác răng hải cẩu, hiện nay đã bị cấm.
Loại sư tử biển: Đôi ngà sư tử biển dùng làm vật trang trí vì vẻ đẹp của chúng. Loại lợn rừng: Đôi ranh nanh của lợn rừng dùng chuôi dao và nhiều đồ mỹ nghệ khác. Việc khai thác răng lợn rừng không bị cấm. Như vậy vàng trắng có nhiều loại. Tuy nhiên loại phổ biến nhất vẫn là ngà voi. Vào nửa cuối thế kỷ 19, người ta đua nhau tới châu Phi để mua bán ngà voi và săn bắn voi. Con số sau đây cho thấy cường độ tàn sát voi trong những thập kỷ qua. Năm 1979, đàn voi châu Phi có 1,3 triệu con. Đến năm 1993 còn 600 nghìn con. Tới năm 1999, chỉ còn 268.344 con. Để bảo vệ đàn voi châu Phi, một hội nghị quốc tế gồm các nhà sinh thái học đã ra quyết định năm 1989 cấm buôn bán ngà voi trên thế giới. Quyết định trên đã được các nước châu u, châu Mỹ nhiệt liệt hưởng ứng và thị trường buôn bán vàng trắng ở cá quốc gia giảm rõ rệt. Riêng ở Pháp, các nhà sinh thái môi trường đã vận động lấy 360 nghìn chữ ký, đề nghị nhà nước nghiêm cấm việc buôn bán ngà voi. Ông Philip Ragon một chủ cửa hiệu buôn bán ngà voi kể rằng: Do cuộc vận động bảo vệ loài voi nên cửa hiệu của tôi đã bị ném đá và họ coi tôi là đồng phạm của những người độc ác đã tàn sát loài voi. Tuy nhiên việc mua bán ngà voi vẫn bí mật tiếp diễn và mỗi năm chỉ tiêu thụ được 1500 kg so với trữ lượng tồn kho ở Pháp lúc đó còn tới 80 nghìn kg số lượng này tồn đọng từ thời Pháp còn có những thuộc địa ở châu Phi. Và như vậy với mức tiêu thụ là 1.500 kg cho một năm thì phải mất 50 năm nữa mới hết trữ lượng ngà voi tồn đọng trên đất nước Pháp. Việc cấm buôn bán ngà voi trên thế giới đã kéo dài được ngót là 10 năm thì đến tháng 6 năm 1997, các nhà khoa học của 138 nước lại quyết định cho phép ba nước châu phi là Bốt – xoa – na, Namibia, Dimbabue được phép xuất khẩu ngà voi vì lý do đàn voi của ba quốc gia trên tăng lên khá nhanh. Theo ông đại sứ Dimbabue ở Pháp thì đàn voi ở nước ông hiện nay lên tới gần 700 nghìn gấp hai lần mức chịu đựng của môi trường sinh thái. Hiện nay mỗi năm có tới 3 nghìn voi con ra đời. Voi tăng lên ngày càng nhiều cùng với dân số ở Dimbabue trong 50 năm qua cũng tăng lên gấp 3 lần. Trong 20 năm tới dân số sẽ còn tăng gấp 2 lần so với hiện nay, thành thử gữa voi và người đang có cuộc cạnh tranh sinh tồn rất gay gắt. Một con voi mỗi ngày cần tới 150 kg cỏ, lá cây. Chúng đi tới đâu thì thiên nhiên ở đó bị tàn phá, ảnh hưởng tới lãnh địa sinh tồn của các loài thú khác chính vì lý do trên mà hội nghị quốc tế về sinh thái môi trường đã cho phép riêng ba nước ở châu Phi được xuất khẩu ngà voi, lấy số tiền này để tu bổ và chăm sóc các vườn quốc gia ở châu phi. Với sự cho phép trên, tháng 4 năm 1999 vừa qua, một lô hàng là 59,1 tấn ngà voi đã từ châu Phi xuất sang Nhật Bản với giá là 30 triệu France tương đương với 5 triệu đô la Mỹ. Cuộc mua bán này được quốc tế cộng nhận và ghi nhận rằng số ngà voi là 59,1 tấn là sự góp mặt của nhiều năm chứ không phải là do hạ sát hàng loạt đàn voi hiện có. Tuy nhiên, từ khi có lệnh mới cho phép ba nước châu Phi xuất ngà voi thì việc tàn sát voi lại gia tăng ở tất cả các nước khác thuộc châu Phi. Các thợ săn trộm voi tàn sát voi hàng loạt. Việc buôn lậu ngà voi cũng rộ lên. Người ta đã bắt được một nhà ngoại giao Hàn Quốc buôn lậu 600 kg ngà voi chất trong 15 va li. Các nhà sinh thái học hiện nay đang đau đầu và lo cho đàn voi châu Phi có nguy cơ bị tiệt chủng.
Lê Trọng Túc – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (3(107))2000.

Phước Kiều, làng đúc đồng Quảng Nam nổi tiếng

Đi dọc quốc lộ 1A qua làng Phước Kiều Quảng Nam, bao giờ ta cũng gặp chừng 20 điểm bán đồ đồng mới tinh, bày tràn ra cả đường nhựa, sáng chói. Đủ các thứ đồ đồng như chuông, lư, đinh, tam sự, ngũ sự… Đặc biệt nhiều hơn cả là làng chiêng và cồng. Một lần tôi đã xuống xe đò dừng lại để ngắm cho sướng mắt. Đây chính là địa phân làng Phước Kiều, làn đúc đồ đồng nổi tiếng từ xưa. Chỗ bán ở ngoài đường, còn trong làng mới là lò đúc đồng. Bây giờ đồ đồng đắt khách vì người ta thích thờ tự theo kiểu xưa. Các loại chiêng rất được người dân tộc, thậm chí người Tây du lịch thích thú. Làng Phước Kiều có nghề đúc đồng từ mấy trăm năm trước, từ thời Hội An là thương cảng buôn bán quốc tế lớn. Các vua thời Nguyễn đã điều động thợ Phước Kiều ra Huế cùng với thợ Phường Đúc đúc các vũ khí, đồ dùng, đồ thờ cúng như chuông, các bô lư và binh lễ, lò trầm, cây đèn, lọ hoa, các đồ mỹ nghệ tinh xảo chọ theo mẫu Trung Quốc như đỉnh, cốc, nồi, bình vôi, ly… Đặc biệt là các loại chiêng, cồng làm nên âm thanh nền văn hóa đặc trưng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đều được người thợ Phước Kiều đúc nên. Cồng là loại nhạc cụ có núm, chiêng không có núm. Chiêng để đi giai điệu cồng để giữ nhịp. Các bộ lạc, bản làng hay gia đình các dân tộc Tây Nguyên đều đi đặt đúc những bộ cồng chiêng cho mình, mỗi bộ ba, bốn hay sáu chiêng, 3 cồng hoặc nhiều hơn. Cồng chiêng coi như vật gia bảo, hàng chục trâu không đổi. Khi có lễ hội như Tết đâm trâu, lễ cơm mới, bỏ mả. … người Tây Nguyên mới tấu lên nhạc cồng chiêng. Người thợ Phước Kiều được đặt hàng nhiều cồng chiêng là do họ chế tạo cồng chiêng đúng âm thanh mà gia chủ đặt các chiêng trong một bộ âm thanh phải cùng giọng mới hòa nhau được. Nhiều vùng miền núi như A Sao, A Lưới – Thừa Thiên Huế, Trà My, Hiên, giằng – Quảng Nam, Trà Bồng – Quảng Ngãi… đồng bào các dân tộc Tà Ôi, Cà Tu, Vân Kiều… cũng lặn lôi đến Phước Kiều đặt làm chiêng, cồng. Nhiều nhà thờ họ người kinh cũng đi Phước Kiều mua chiêng dùng trong tế lễ, đám ma… Chiêng Phước Kiều sở dĩ ăn khách là bởi tiếng vang đặc sắc của nói, người dân gọi nôm na là tiếng thụng oang. Có nghĩa là khi gõ dùi vào chiêng ta nghe tiếng chiêng vang lên dài dài gọi là tiếng thụng, sau đó chiêng bỗng tự động phát ra âm khác cao hơn, vang hơn như lay gọi, như tiếng vọng (tiếng oang). Bí quyết để làm nên âm thanh “thụng oang” trong một lần gõ ấy là bí mật gia truyền, chỉ có người Phước Kiều mới biết. Các lò đúc đồng Phước Kiều sản xuất bằng thủ công gồm các thứ khuôn (khuôn ngoài và khuôn trong cốt). Khuôn được nung trong lò nung. Sau khi được khuôn rồi, đồng nấu lỏng, thêm các chất phụ gia kỹ thuật sau đó rót vào khuôn đúc. Tiếp theo là dũa mài, gõ, làm bóng để cho sản phẩm đẹp, nếu là chiêng thì âm thanh phải đúng âm Phước Kiều. Một làng nghề từ mấy trăm năm vẫn tấp nập đắt khách quả là quý giá.
Ngô Minh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (3(107))2000.