Côn Đảo mở 7 tuyến du lịch

Từ tiềm năng…
Từ Vũng Tàu hoặc Cần Thơ muốn đi Côn Đảo phải ngồi tàu thủy khoảng 16 giờ qua 180km đường biển hoặc sang hơn có thể đến Côn Đảo bằng máy bay của Công ty Bay dịch vụ miền Nam với thời gian một tiếng rưỡi đồng hồ. Thiên nhiên đã vô tình ba tặng cho Côn Đảo một tài nguyên du lịch khá phong phú với sự quần tụ của 16 hòn đảo lớn, nhỏ, mà mỗi hòn đảo đều có một nét riêng để làm say đắm lòng người. Côn Đảo có 900 loài thực vật, trong đó có 201 loài cho gỗ lớn, có 4 loài đặc sắc cho rừng Côn Đảo có mật độ khá dày như cẩm thị, lát hoa, quăng và găng néo. Riêng tài nguyên động vật thì phong phú và có nhiều điểm nổi bật so với các vùng khác. Tại đây còn lưu giữ gần như nguyên vẹn một bảo tàng về chim, thú và bò sát. Gần 100 loài chim thú trong đó có sóc bụng vàn, sóc Mun, gầm ghề trắng, bồ câu Nicoba và nhiều sàn vật quý như yến sào, đồi mồi, vích, hải sâm và cá heo, cá mập…
Một lần đến Côn Đảo là một lần du khách ngẩn ngơ với núi rừng và biển cả. Làm sao du khách có thể quên được khi được ngồi dưới ánh trăng để nghe sóng biển tự tình và nhâm nhi món đặc sản Vú Nàng hoặc ăn vài món cháo mực nóng hổi do những thơ câu mực chuyên nghiệp vừa bắt lên, kể cả món tôm luộc vừa ăn vừa lạ xuýt xoa khen. Nhưng thích nhất có lẽ là đi tắm biển, tại các bãi như Đầm Trầu, ông Đụng, bãi cát vàng mịn nôn nao, nước se sắt đến nao lòng.
Đến Côn Đảo ngoài việc đi thăm thú phong cảnh, điều mà mọi người không thể quên là thăm lại chứng tích nhà tù khổ sai. Đây là những trang sử được viết bằng máu và nước mắt và là nơi in đậm hồn thiêng dân tộc. Nghĩa trang Hàng ương với gần 2.000 ngôi mộ chỉ là một phần rất nhỏ trong nhà vạn chiến sĩ đã hy sinh cho độc lập tự do. Những chuồng cọp, chuồng bò, xà lim, cầu tàu, công quán là những cái tên đã đi vào lịch sử, và thực sự nó là một áng hùng ca bất hủ thể hiện khí phách của một dân tộc anh hùng.
Đến định hướng du lịch côn đảo
Do vị trí và các tính chất đặc thù, các nhà quản lý ở Bà Rịa – Vũng Tàu và các chuyên gia về du lịch đã vạch ra một hướng phát triển mới cho du lịch Côn Đảo. Bảy tuyến du lịch dạo quanh hòn đảo này đang dần được thiết lập. Tuyến Côn Sơn đi Hòn Tài và Hòn Bảy Cạnh sẽ đưa du khách tận mắt quan sát quần thể chim biển, đặc biệt là sự dày đặc của chim điên mặt xanh – một loài chim đặc hữu chỉ có ở vùng biển Côn Đảo. Trên đường đi của tuyến du lịch này du khách có thể được chứng kiến quần tụ của đàn cá heo hay loài thú biển du gông. Tuyến Hòn Tài – Hòn Bà lại đưa du khách đến một vùng rừng ngập mặn và các bãi tắm đẹp sạch thuận lợi cho du khách lặn xuống các dải san hô.
Trong những năm gần đây, lượng khách du lịch và nghiên cứu khoa học đến Côn Đảo ngày càng nhiều. Tính riêng 6 tháng đầu năm 1999 đã có khoảng 5.000 du khách đến Côn Đảo, doanh thu của ngành du lịch đạt trên 4 tỉ đồng. Cơ sở hạ tầng ngành du lịch Côn Đảo, đã có những bước tiến đáng kể. Ngoài hệ thống 2 khách sạn lớn là Phi Yến và Sài Gòn Tourist, nhiều phòng nghỉ của các cơ quan đơn vị Nhà nước và tư nhân cũng đã mọc lên góp phần vào việc phục vụ sinh hoạt khách du lịch với giá bình quân từ 50.000 đến 250.000 đồng / khách / ngày đêm. Để có khả năng vận chuyển khách tuyến du lịch Vũng Tàu – Côn Đảo và các tuyến nội vùng giữa các đảo, Ủy ban nhân dân huyện Côn Đảo sắp sửa hoàn thành công việc đóng mới 1 tàu khách 400 chỗ ngồi với tổng vốn đầu tư 100 tỷ đồng. Trong bức tranh huy hoàng chói lọi của một tương lai Côn Đảo đã có một phân khu Cỏ Ống phục vụ cho du lịch, một khu bảo tồn biển quốc gia với tổng vốn đầu tư 26 tỷ đồng. Một dự án đang gây được sự chú ý trong dư luận, đặc biệt là cho các nhà quản lý du lịch là Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và tổ chức bảo vệ động vật hoang dã thế giới tại việt nam (WWF) đã chọn Côn Đại đại diện cho 29 tỉnh thành ven biển thực hiện mô hình phát triển kinh tế kết hợp bảo vệ môi trường. Dự án ADB 5712 – REG với tổng vốn đầu tư trên 47,3 triệu USD.
Việc thu hút khách du lịch đến Côn Đảo sẽ được chú trọng hơn thông qua vấn đề quy hoạch bảo tồn và tôn tạo khu di tích lịch sử Côn Đảo. Đề án quy hoạch khu di tích lịch sử Côn Đảo do kiến trúc sư Hà Tất Ngạn làm chủ nhiệm với diện tích quy hoạch 230 ha có tổng giá trị đầu tư đang dần được khẳng định bởi nó đã nhận được sự đồng tình của dư luận.
Hơn một trăm năm là nhà tù khổ sai, sau giải phóng Côn Đảo bắt đầu đi lên bằng nội lực của mình. Sự đi lên đó ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt hơn khi tiềm năng du lịch ở Côn Đảo đã được xác định và có những định hướng đúng đắn…
Thế Hưng-Tuần Du lịch- Tổng cục Du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Làng Vạc – Di chỉ văn hóa Đông Sơn đang kêu cứu

Làng Vạc thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An). Từ đầu thập kỷ 70 khi đang tiến hành xây dựng đập thủy lợi Hòn Sường, những người lao động đã phát hiện được nhiều cổ vật quý hiếm của nền văn hóa Đông Sơn: Trống đồng, thạp, các loại vũ khí và đồ dùng: Dao găm, búa rìu, nồi đồng, muôi đồng… Hầu hết các hiện vật ở Làng Vạc đều được chôn trong các ngôi mộ cổ, theo thuật ngữ chuyên môn gọi là Mộ Táng. Viện khảo cổ học đã phối hợp với các cấp, ngành chức năng và các nhà khảo cổ Nhật Bản tổ chức các đợt khai quật. Qua công tác khai quật, các nhà khảo cổ học đã đào được hàng mấy trăm ngôi mộ cổ, bao gồm các mộ phụ, ghép đá; các mộ vò; các mộ kẽ hoặc rải gốm và mộ đất. Phát hiện 510 cổ vật bằng đồng, 77 cổ vật bằng đồ đá và hàng trăm đồ vật bằng sứ gốm.
Cổ vật ở Làng Vạc cũng như di chỉ Làng Vạc là một tài sản quốc gia vô cùng quý giá. Nhưng đã hơn hai mươi năm nay, di chỉ Làng Vạc không được bảo vệ, quản lý chặt chẽ nên nạn đào bới tìm cổ vật diễn ra rất nghiêm trọng. Đặc biệt từ ngày 20/7/1999 có hàng trăm người ở làng Vạc và các vùng phụ cận đang tham gia đào bới, khai quật trên diện rộng và công khai. Các cổ vật cũng được các tay buôn từ các nơi đến thu mua: một chiếc dao găm còn nguyên vẹn giá 20 triệu đồng, vòng tay, vòng tai, khay, thạp, am chào giá từ một hai trăm nghìn đến hàng triệu. Những người đào bới bất chấp cả đường sá, vườn tược, ruộng lúa, bờ mương. Họ chỉ nghĩ đến những món tiền béo bở đang chờ đến họ. An ninh trật tự trong khu vực đang bị đảo lộn.
Mong rằng các cấp, các ngành cần nhanh chóng ra tay ngăn cản việc đào bới, khai quật tùy tiện, để cứu lấy Làng Vạc – Di chỉ văn hóa Đông Sơn, một chứng tích của thời đại Hùng Vương huy hoàng.
Bảo Hân
Khi “Ghen” lên phim
Sáng ngày 1 tháng 8 tại trường quay S1 – Đài truyền hình Việt Nam, VTV3 đã tổ chức chương trình “Dành cho người hâm mộ”. Đây là lần thứ hai chương trình được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho khán giả xem truyền hình được trực tiếp gặp gỡ, giao lưu với các nghệ sĩ, các ngôi sao màn bạc Việt Nam được nhiều người mến mộ. Lần này, người hâm mộ được gặp gỡ làm quen với các thành viên trong đoàn phim “ghen” của đạo diễn Phạm Thanh Phong. Đây là một bộ phim hài để lại nhiều ấn tượng bởi những tiếng cười sảng khoái. Trước bộ phim “Ghen”, khán giả truyền hình cũng biết đến đạo diễn Thanh Phong qua bộ phim hài “Văn phòng lopa”. Song có lẽ, bộ phim “Ghen” đã động chạm đến một vấn đề quá nóng bỏng của đời sống xã hội. Và như đạo diễn Thanh Phong, để làm được bộ phim này, anh phải tham khảo rất nhiều kiểu “ghen” từ cuộc sống hàng ngày, qua kể chuyện và trên các phương tiện thông tin báo, đài.
Sau lời giới thiệu của người dẫn chương trình, đạo diễn Trần Lực, cả trường quay vang lên những tràng pháo tay đón chào các nghệ sĩ Chí Trung, Quốc Khánh, Minh Hằng, đạo diễn Phạm Thanh Phong và cả một diễn viên phụ rất gây ấn tượng, “lão râu xồm” Minh Tâm – một chuyên gia làm tiếng động cho phim hàng đầu nước ta.
Trong suốt hai tiếng đồng hồ buổi gặp gỡ giao lưu với các thành viên trong đoàn phim “ghen” đã trở thành cuộc tọa đàm rất sôi nổi, quyết liệt về đàn ông hay đàn bà hay ghen hơn. Theo nghệ sĩ Chí Trung thì cái ghen của đàn ông thường dữ dội, pha chút bạo lực, ít lời và mang tính hình sự hơn, chứ không nhấm nhảnh, nhiều lời như phụ nữ. Song nói cho cùng mọi người đều đồng ý, ghen là một phản ứng mang tính tự vệ của tình yêu. Nhưng theo nghệ sĩ Minh Hằng thì phải ghen “có chọn lọc”. Đừng vì ghen mù quáng mà trở nên đánh mất chính mình.
Khán giả tham dự chương trình “Dành cho người hâm mộ” cũng hy vọng đạo diễn Phạm Thanh Phong sẽ tiếp tục cho ra mắt một bộ phim hài nữa về cái ghen của “đàn ông”. Và kiểu kiểm soát các ông chồng, bà vợ bằng cách nhìn công-tơ-mét xe máy hàng ngày cũng được khán giả hiến kế cho đạo diễn. Hy vọng trong thời gián sớm, khán giả truyền hình sẽ được tiếp tục xem một bộ phim “Ghen” nữa…
Nguyễn Lân Hùng Sơn – Tuần Du lịch – 1999

Các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho công ty khách sạn du lịch Quảng Trị

LTS: Trên số báo 21 ra ngày 24-5-1999, báo Tuần Du Lịch có đăng bài “Công ty khách sạn – Du lịch Quảng Trị bị phong tỏa tứ bể”. Bài báo đã chỉ ra các khó khăn, vướng mắc kìm hãm bước tiến của Công ty Khách sạn – Du lịch Quảng Trị. Tuy nhiên, sau khi có bài báo trên, chúng tôi đã nhận được bản Fax của ông Nguyễn Văn Dùng, Giám đốc Công ty Khách sạn – Du lịch Quảng Trị, cho biết, trước đó, vào ngày 8-4-1999, tại cuộc họp để giải quyết một số việc tồn động của công ty bao gồm đại diện lãnh đạo các ban ngành hữu quan trong tỉnh, ông Nguyễn Minh Kỳ, Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị, đã đưa ra các ý kiến kết luận nhằm giải quyết các vướng mắc cho Công ty. Chúng tôi hy vọng, trên cơ sở các ý kiến kết luận đó Ủy ban nhân dân tỉnh sớm chỉ đạo các sở, ban, ngành, cơ quan chức năng cùng với Công ty nhanh chóng giải quyết các khó khăn, vướng mắc để giúp Công ty sớm đi vào ổn định và phát triển. Dưới đây là các ý kiến kết luận của Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Minh Kỳ.
1 – Công ty Khách sạn – Du lịch Quảng Trị căn cứ vào số liệu báo cáo tài chính đến ngày 31-12-1997 của hai công ty cũ đã được tổ kiểm tra quyết toán của Cục Quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp và Cục thuế tỉnh thẩm định để bàn giao, và làm số dư đầu kỳ của công ty theo Thông tư số 130/1998 TT-BTC ngày 30-9-1998 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn việc bàn giao, tiếp nhận và xử lý các tồn tại về mặt tài chính của doanh nghiệp Nhà nước khi sát nhập hợp nhất. Các khoản chênh lệch giữa số liệu trên sổ sách và thực tế kiểm kê (nếu có) xử lý theo chế độ hiện hành, các khoản nợ phải thu, phải trả đã nhận bàn giao của công ty cũ, Công ty Khách sạn – Du lịch mới tích cực thu để bổ sung vốn kinh doanh và thanh toán cho các chủ nợ nhằm lành mạnh hóa quan hệ tài chính của doanh nghiệp. Trường hợp nợ không thể thu hồi hoặc khó đòi, công ty làm các thủ tục báo cáo các ngành liên quan, các cơ quan bảo vệ pháp luật giải quyết theo luật định.
2 – Công ty Khách sạn – Du lịch Quảng Trị làm việc trực tiếp cụ thể với các Ngân hàng liên quan để đối chiếu chính xác số nợ phải trả, làm các thủ tục xin xóa hoặc khoanh các khoản nợ vay của hai công ty cũ trước đây theo qui định có văn bản đề nghị các Ngân hàng Trung ương giải quyết. Đề nghị các Ngân hàng Thương mại Quảng Trị tạo mọi điều kiện thuận lợi để Công ty Khách sạn – Du lịch Quảng Trị được vay vốn phục vụ quá trình kinh doanh; Công ty Khách sạn – Du lich Quảng Trị cần xây dựng phương án kinh doanh có hiệu quả để vay vốn.
3 – Đối với khoản nợ Công ty Khách sạn – Dịch vụ Đông Hà trước đây vay của Ban Tài chính quản trị Trung ương, Công ty Khách sạn – Du lịch Quảng Trị làm văn bản trình UBND tỉnh đề nghị Ban Tài chính quản trị Trung ương chuyển thành vốn cấp phát, bổ sung vốn kinh doanh cho doanh nghiệp.
4 – Công ty Khách sạn – Du lịch Quảng Trị tiến hành làm hồ sơ theo qui định đề nghị Bộ Tài chính và Tổng cục thuế xin xóa các khoản nợ thuế của hai công ty cũ từ năm 1997 trở về trước.
5 – Đồng ý trích ngân sách tỉnh hỗ trợ công ty Khách sạn – Du lịch Quảng Trị thanh toán khoản nợ cấp thôi việc cho số cán bộ công nhân viên dôi ra sau khi sát nhập và trả nợ bảo hiểm xã hội của hai công ty cũ còn nợ đến 31-12-1997. Công ty Khách sạn – Du lịch Quảng Trị làm việc với Sở Lao động Thương binh và xã hội, Bảo hiểm Xã hội, Sở tài chính vật giá trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo đúng chế độ và chính sách của Nhà nước hiện hành.
6 – Đối với hàng hóa tồn kho từ 31-12-1997 trở về trước của hai công ty cũ, Giám đốc Công ty Khách sạn – Du lịch mới tích cực tìm khách hàng tiêu thụ – Trường hợp có chênh lệch giảm giá hàng tồn khi thì làm văn bản báo cáo Cục Quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp xem xét giải quyết.
7 – Về chiếc xe Toyota Forrunes do ông Nguyễn Long thanh, nguyên Giám đốc Công ty Khách sạn và Dịch vụ Đông Hà (cũ) mua, giao ông Thanh hoàn thành thủ tục để bán trước ngày 30-5-1999. Trường hợp xe không đủ thủ tục đăng ký lưu hành, Giám đốc Công ty (mới) báo cáo cơ quan pháp luật xử lý theo qui định.
8 – Các đề xuất của Công ty Khách sạn – Du lịch Quảng Trị về hỗ trợ vốn lưu động, vốn xây dựng khách sạn Hiếu Giang, Ủy ban nhân dân tỉnh giao các Sở, ngành chức năng nghiên cứu đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh giải quyết.

Làm gì để tồn tại

Từ những điều tai nghe…
Non Nước cách thành phố Đà Nẵng khoảng 15 cây số. Tại đây có núi Ngũ Hành Sơn, làng đá Non Nước, bãi tắm tốt, đồi cát mênh mông… nên đã được Công ty Du lịch Non Nước (Đà Nẵng) chọn làm khu Du lịch ngay từ những năm đầu giải phóng.
Trong kinh doanh, khu du lịch Non Nước đã có một thời vàng son! Mức lương tháng trung bình của một công nhân viên không dưới 1.000.000 đồng.
Ấy thế mà, đã nhiều năm qua hình ảnh khu Du lịch Non Nước gần như bị chìm trong quên lãng. Phòng ốc của khách sạn xuống cấp trầm trọng, nhiều dịch vụ ngưng hoạt động, một số cán bộ, nhân viên đã từng góp phần xây dựng khu du lịch đành phải ngậm ngùi ra đi vì đồng lương quá thấp.
Lý do gây thảm trạng là việc liên doanh với nước ngoài bất thành, mặc dầu hợp đồng đã ký kết.
Bỏ thì thương, vương thì tội! Nhưng bỏ làm sao được khi có một cơ ngơi lý tưởng như thế. Còn theo thì đâu phải là chuyện dễ làm! Niềm hăng say của mọi người thuở ban đầu khó mà tìm thấy lại, quan trọng hơn là kinh phí để cải tạo, lấy đâu ra?
… đến mắt thấy
Trên đường từ Hội An về Đà Nẵng, tôi ghé khu Du lịch Non Nước. Cảnh vật không mấy thay đổi, vẫn còn đượm màu phong sương! Tôi hỏi ông Phan Tấn Thiện, Giám đốc khu du lịch: Năm nay có gì khả quan hơn không? Công ty và Khu Du lịch có gì mới để chuẩn bị cho năm 2000?
Ông Thiện cười, phấn khởi: Hai tháng qua, doanh thu bằng cả sáu tháng cùng kỳ năm ngoái. Có ngày khách nằm cả ở hội trường, có lúc phải thương lượng với những phòng ngủ chung quanh vùng để khách có chỗ nghỉ.
Tôi hỏi: Nhưng phải có lý do, mới được như thế? Ở Đà Nẵng ít có khách sạn nào đạt nổi 50%?.
Lý do thì có nhiều. Trước hết là không thể kéo dài tình trạng “bi quan” thêm nữa và cũng không thế “nằm chờ sung rụng”. Bên Công ty và Khu Du lịch nhất trí là phải làm lại những công việc như từ đầu. Khách sạn ở đây chủ yếu là đón khách đoàn nên trước hết phải tiếp thị. Làm công việc này trong lúc các Công ty du lịch, lữ hành ở khắp nơi đã có một liên hệ ổn định với các khách sạn nên vô cùng khó khăn. Phòng ốc thì xuống cấp, trang thiết bị cũ kỹ, ngay đến cả các lối đi trước đây đều lát gạch, tráng xi măng nay đã có nhiều chỗ bị cát vùi mất dấu vết. Nhưng dù khó đến đâu thì cũng phải tu sửa lại. Từ lãnh đạo đến cán bộ, nhân viên chúng tôi quyết tâm từng bước vươn lên. Và chúng tôi đang triển khai mô hình: Khu nhà dã ngoại. Mô hình “Khu nhà dã ngoại” của chúng tôi sẽ là nơi đón những đoàn học sinh, sinh viên tại địa phương và cũng có thể ở từ các nơi xa đến.
Nói đến đây, ông Thiện mời tôi đi tham quan khu nhà vừa nói. Đây là những căn nhà mái lá, vách cót (phên), cao ráo cửa ngõ kín đáo, được dựng lên dưới những hàng phi lao. Bước vào trong, mỗi căn kê 5 giường (chõng) tre cá nhân, gối và chiếu sạch sẽ tươm tất, có phòng thay quần áo, có chum (lu) chứa nước ngọt, có quạt máy…
Tôi khen: lý tưởng đấy nhưng giá cho thuê một căn bao nhiêu một ngày đêm? So với giá thuê phòng trong khách sạn thì thế nào?
Mục đích đưa ra mô hình này là để đáp ứng cho những gia đình ở Đà Nẵng đến đây nghỉ cuối tuần hoặc từng nhóm thanh niên, học sinh, sinh viên đi dã ngoại. Do đó từ ngày đưa những căn nhà này vào hoạt động thì mới chỉ cho thuê ngày chứ chưa gặp trường hợp họ thuê đêm. Một ngày 70.000 đồng, tính ra mỗi giường chỉ 15.000 đồng. Trường hợp khách chỉ có vài ba người mà thuê một căn thì mình linh động, giá bình dân. Có những đoàn đến đây gặp khi hết phòng họ cũng thích những căn nhà này hơn là đi ở những khách sạn bên ngoài.
Ông Thiện chỉ tay về phía những đồi cát trước mặt, chỉ cách khoảng 100m, giới thiệu: Mấy biệt thự nho nhỏ trên đồi cát cũng thuộc Công ty Du lịch Non Nước. Tiện nghi đầy đủ như ở phòng loại sang. Khách ngoại quốc thích lắm vì được sống biệt lập, giá thuê lại rẻ, khung cảnh thơ mộng, thoải mái. Suốt ngày không có tiếng ồn ngoài tiếng sóng vỗ nhẹ vào bờ và thông reo.
Vừa lúc ấy một xe buýt từ cổng chính chạy vào tôi hỏi: Lại có khách đoàn đến?
Không. Đấy là xe buýt mà khu du lịch chúng tôi hợp đồng với Công ty xe khách chạy tuyến thành phố Đà Nẵng đến khu du lịch Non Nước. Mỗi ngày xe chạy nhiều chuyến, chuyến sớm nhất chạy qua đây lúc 6 giờ sán và chuyến chót chạy về Đà Nẵng lúc 18 giờ.
Tôi thích thú: Tổ chức thật hợp lý. Thế mà tôi đâu có biết có tuyến xe buýt này. Và chắc cũng chẳng mấy ai biết. Thời buổi kinh tế thị trường mà thiếu thông tin, quảng bá là thiếu sót đấy, ông giám đốc nhé!
Trước khi bước lên xe buýt tôi bèn bắt tay tạm biệt giám đốc hẹn có dịp sẽ gặp lại.
Nguyễn Xuân Ra – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Vượt qua khó khăn du lịch Hà Nội tiếp tục phát triển_Phần 2

Hỗ trợ cho những hoạt động kinh doanh này đạt hiệu quả công tác tuyên truyền, quảng cáo được Sở đặc biệt chú trọng. Đặc biệt trong lúc khó khăn này, Thành ủy Hà Nội ban hành Nghị quyết 11 về phát triển du lịch Hà Nội sau năm 2000. Nghị quyết đã góp thêm sức mạnh củng cố niềm tin, kịp thời phục sức cho du lịch Thủ đô đang gặp nhiều thách thức.
Nhờ có sự tác động mạnh mẽ, chính xác và chủ động Du lịch Hà Nội trong năm 1998 và nửa năm 1999 vẫn đứng vững và phát triển. Lượng khách đến Hà Nội đạt 1.288.800 lượt người, tăng 7,4%; tổng doanh thu đạt 1.134 tỷ đồng, tăng 8%; nộp ngân sách 153 tỷ đồng, tăng 6% so với năm 1997.
Sáu tháng đầu năm 1999, kinh doanh du lịch đã bắt đầu nhích lên một bước nữa, được Sở Du lịch đánh giá là có mức tăng trưởng khá: Doanh thu ở khách sạn, nhà hàng đạt 572.123 tỷ đồng, tăng 5,8%; Lượng khách du lịch đến Hà Nội đạt 579.803 lượt, tăng 9,9%, nộp ngân sách Nhà nước 67 tỷ đồng, tăng 11% so với cùng kỳ năm 1998. Trong doanh thu, 6 tháng đầu năm đã có sự chuyển dịch về cơ cấu, trong đó doanh thu lưu trú chiếm 47%, doanh thu lữ hành chiếm 12% doanh thu về các dịch vụ giải trí cũng tăng ở con số đáng kể. Đối với khách sạn, bên cạnh biện pháp giảm giá buồng phòng, các dịch vụ mới mở ra như Massage, karaoke… dẫn đến ngày lưu trú của khách tăng trung bình 0,2 lần/lượt khách.
Một vấn đề đáng chú ý nữa là khách du lịch nội địa đang có xu hướng tăng, năm 98 khách du lịch trong nước đi nước ngoài tăng gấp 5 lần năm 97. 6 tháng đầu năm 1999 khách du lịch nội địa đạt 456.388, tăng 11% so với cùng kỳ năm 1998.
Những con số kết quả trên đã nói lên sự cố gắng của hoạt động kinh doanh Du lịch Thủ đô. Với đà khôi phục kinh tế của các nước trong khu vực, kinh doanh du lịch đang có nhiều tín hiệu khả quan. Một số chuyên gia du lịch tiên đoán rằng lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam sẽ bắt đầu tăng lên từ tháng 10 năm nay.
Dường như thấy trước được khả năng này. Sở Du lịch Hà Nội trong chương trình hành động về du lịch đã hoàn tất kế hoạch chuẩn bị. Trong đó liên hoan Du lịch mùa thu được tổ chức trên quy mô lớn, với nhiều ngành, nhiều địa phương, nhiều lực lượng tham gia đang gấp rút hoàn thiện những công việc cuối cùng. Liên hoan kéo dài trong 3 ngày sẽ được khai mạc vào ngày 1.10. Theo ông Nguyễn Quốc Trung, phó Giám đốc Sở du lịch Hà Nội thì Liên hoan du lịch mùa thu 9 là bước khởi đầu cho hàng loạt các chương trình hành động về Du lịch tiếp theo. Đây sẽ là dịp để Du lịch Hà Nội tạo ra kỳ được một tinh thần mới, một ấn tượng mới về du lịch, không chỉ cho du khách quốc tế mà ngay cho du khách của Hà Nội và trong cả nước. Ông Trung cho rằng: để hoạt động du lịch có hiệu quả, bên cạnh các sản phẩm du lịch, công tác tuyên truyền quảng bá là khâu cực kỳ quan trọng. Hà Nội thời gian qua còn yếu hoạt động này. Nguyên nhân thì có nhiều nhưng cái chính là chúng ta chưa nhận thức đầy đủ. Do vậy, trong nhiệm vụ của những tháng còn lại của năm 1999, Hà Nội sẽ chỉ đạo cả thành viên trực thuộc Sở tăng cường hơn nữa hoạt động này. Khâu này được xem như “sắm thừng buộc bò” trong câu chuyện dân gian vậy.
Với vị trí Thủ đô của một nước, có bề dày truyền thống 1.000 năm tiềm năng du lịch Thủ đô vẫn chưa được khai thác tương xứng. Đây là cả một sự nghiệp to lớn, ngành Du lịch non trẻ của Thủ đô còn đang dò dẫm những bước đi thích hợp. Nhưng thời cơ phục hưng của ngành Du lịch bắt đầu điểm. Ngành Du lịch Hà Nội cũng đã sẵn sàng.
Phạm Thành – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Vượt qua khó khăn du lịch Hà Nội tiếp tục phát triển_Phần 1

Tính đến tháng 12 năm 1998, cơ sở vật chất để kinh doanh du lịch trên địa bàn Thành phố Hà Nội có 153 công ty lữ hành (gồm 29 công ty lữ hành quốc tế, 95 công ty lữ hành nội địa, 29 chi nhánh của các tỉnh, thành, trong đó có 69 công ty quốc doanh, 5 công ty liên doanh và 79 công ty ngoài quốc doanh). Có 371 khách sạn với 8.635 phòng, gần 8.000 phòng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Trong đó có 106 khách sạn quốc doanh (3460 phòng), 16 khách sạn liên doanh với nước ngoài (gồm 1.790 phòng), 249 khách sạn ngoài quốc doanh (3205 phòng); 53 khách sạn đã được xếp hạng sao (gồm 2 khách sạn 5 sao; 1 khách sạn 4 sao; 13 khách sạn 3 sao; 23 khách sạn 2 sao và 12 khách sạn 1 sao. Có 641 người được cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch; có 19 công ty vận chuyển khách du lịch với trên 100 đầu xe và 1.187 taxi tham gia vận chuyển khách du lịch.
Năm 98 vẫn còn là năm Du lịch Hà Nội gặp khó khăn. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực tiếp tục gây ảnh hưởng đến kinh doanh du lịch. Lượng khách quốc tế vào Việt Nam và Hà Nội tiếp tục giảm, sản phẩm du lịch chưa đổi mới nhiều. Trước thách thức này không ít doanh nghiệp kể cả doanh nghiệp liên doanh, quốc doanh và tư doanh mất bình tĩnh. Một số liên doanh công ty, khách sạn đã xây dựng xong nhưng không dám khai trương đưa vào hoạt động. Các khách sạn, các công ty lữ hành đua nhau giảm giá buồng phòng, giảm giá tua, tuyến. Từ đó kinh doanh du lịch ở Hà Nội rơi vào tình trạng hoạt động không bình thường, phát sinh nhiều điều phức tạp.
Ông Nguyễn Quang Lân, Giám đốc Sở Du lịch Hà Nội nói rằng: Khó khăn trong kinh doanh Du lịch ở Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung đã được các doanh nghiệp biết trước. Nhưng do nghề kinh doanh du lịch ở nước ta còn mới mẻ, sản phẩm du lịch của Hà Nội còn thiếu và chưa được đổi mới nhiều cho nên sự giảm sút trong kinh doanh là điều khó khăn.
Để giảm bớt sự căng thẳng, với vai trò quản lý nhà nước, Sở Du lịch Hà Nội đã phối hợp với các doanh nghiệp tìm phương án khắc phục. Sở đứng ra tổ chức các cuộc tiếp xúc, gặp gỡ, hội thảo với hết thảy các đơn vị, tổ chức ra đời Câu lạc bộ các doanh nghiệp du lịch Hà Nội. Các hoạt động trên đã giúp các doanh nghiệp hiểu biết lẫn nhau, xích lại gần nhau hơn, tạo thành một khối thống nhất nhằm cùng ngăn chặn hiện tượng kinh doanh không vì lợi ích của toàn ngành du lịch. Bên cạnh đó, Sở chủ động tăng cường tổ chức kinh doanh lữ hành, thu hút khách đưa đi du lịch nước ngoài, và du lịch nội địa như mở thêm các tour du lịch bằng thuyền, tàu thủy, tour du lich ngắn ngày, du lịch làng nghề, làng cổ, lễ hội, chùa chiền… tour du lịch trong thành phố… Mở thêm các tuyến mới nối các tỉnh, các vùng phụ cận. Để kinh doanh lữ hành có hiệu quả lần đầu tiên Sở phối hợp với các sở, ngành, các quận của Hà Nội xây dựng phương án nâng cấp và tôn tạo hệ thống chùa và các điểm du lịch quanh Hồ Tây; phối hợp với các quận, huyện xây dựng phương án quản lý nhằm giữ vững thuần phong mỹ tục của người Hà Nội, giữ gìn văn minh, văn hóa, chống các tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ nạn ăn xin, ăn mày ở các điểm và các khu du lịch thuộc quận Hoàn Kiếm và Tây Hồ; phối hợp với các quận huyện xây dựng các trạm dừng chân, các công trình dịch vụ ở một số tuyến đi các tỉnh.
Phạm Thành – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Bước tiến dài của một chặng đường. – Phần 2

Việc đầu tư có hiệu quả tại 3 hang động này đã nâng cao rõ rệt tính hấp dẫn của hành trình du lịch trên Vịnh Hạ Long được du khách trong nước, quốc tế đánh giá cao. Bên cạnh đó, việc đầu tư khai thác tiềm năng của đảo Ti Tốp đã có những kết quả bước đầu. Khu bãi tắm cùng với những hoạt động dịch vụ đã hoàn thành giai đoạn một. Theo ban quản lý cho biết, sắp tới giai đoạn hai đầu tư cho trọng điểm này sẽ được tiến hành với mức kinh phí là 1,5 tỷ đồng. Tại đây sẽ có con đường treo chạy xung quanh đảo và dẫn lên điểm cao nhất, làm nơi quan sát Vịnh Hạ Long… Những nỗ lực của Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban quản lý Vịnh Hạ Long, ngành Du lịch tỉnh Quảng Ninh… không chỉ nhằm mục đích khai thác những tiềm năng vô giá của thiên nhiên ban tặng, mà còn thực hiện trách nhiệm gắn khai thác với quản lý, bảo tồn, với mục tiêu phát triển bền vững… phù hợp với những quy tắc của công ước quốc tế về quản lý, bảo vệ Di sản thế giới. Đây là lĩnh vực hết sức quan trọng vì môi trường Vịnh Hạ Long bị tác động bởi nhiều nguồn: công nghiệp, đô thị, sinh hoạt, phương tiện vận tải thủy… Dự án quản lý môi trường Vịnh Hạ Long đến năm 2010 đã hoàn thành với nội dung đánh giá một cách chính xác các nguồn gây ô nhiễm, phân tích, vạch chiến lược và giải pháp quản lý môi trường Vịnh Hạ Long. Trong khu vực bảo vệ trực tiếp của Di sản, đã thực hiện di chuyển khu sản xuất than nhằm hạn chế những tác động của việc khai thác than tới môi trường Vịnh Hạ Long. Các hoạt động xây dựng, khai thác trái phép trong phạm vi bảo vệ được ngăn chặn kịp thời. Đặc biệt nạn khai thác thủy sản tùy tiện, có tính hủy diệt đã được kiểm soát chặt chẽ .. . thay vào đó là những con tàu chở khách du lịch sang trọng, hiện đại, càng làm sinh động hơn hình ảnh một khu du lịch đang trên đà phát triển. Sự chuyển biến đáng kể đó không hoàn toàn dựa vào những nỗ lực về tài chính, về các nguồn đầu tư trực tiếp…. Thành công đáng kể ở đây chính là dựa vào những chuyển biến trong nhận thức của cộng đồng đối với những giá trị của Di sản thế giới. Tại những điểm kinh doanh dịch vụ, việc giữ gìn vệ sinh môi trường được giao cho các chủ kinh doanh tự quản và thực tế đã tạo ra những hiệu quả rõ rệt, đặc biệt là ở những khu vực hang động, bãi tắm…. Đội ngũ nhân viên phục vụ, bảo vệ… ngoài nhiệm vụ chuyên môn, họ cũng chính là những tuyên truyền viên tích cực, làm nòng cốt đưa công tác bảo vệ cảnh quan môi trường, có tính xã hội hóa cao. Tuy nhiên, so với tiềm năng vô cùng lớn của Vịnh Hạ Long thì những chuyển biến tích cực hiện nay còn quá khiêm tốn và chưa được như mong muốn. Nhưng với khoảng thời gian 5 năm đầu hoạt động với tư cách là Di sản thế giới, thì những kết quả đạt được có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi Vịnh Hạ Long được thực sự coi trọng bằng việc tạo ra được ý thức bảo vệ, tạo ra được ý thức bảo vệ, giữ gìn Di sản trong cộng đồng, đưa công tác quản lý đi vào nề nếp, có sự phối hợp đa ngành, tạo ra được những ấn tượng tốt trong đông đảo du khách đối với khu du lịch nổi tiếng, khẳng định hướng đi đúng trong công tác đầu từ về vật chất, nhân lực cơ chế chính sách… làm tiền đề cho những giai đoạn tiếp theo, thực hiện khai thác, bảo tồn và phát huy những giá trị đặc biệt của Vịnh Hạ Long một cách lâu dài, bền vững….
Hoàng Ly – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 25(129)2000.

Bước tiến dài của một chặng đường. – Phần 1

Đến thăm hang Đầu Gỗ, một hang động đẹp nổi tiếng của Vịnh Hạ Long, du khách sẽ thấy 2 nửa của một khối nhũ đá không biết có từ bao giờ, mà đến nay, hàng ngày nửa trên và nửa dưới vẫn cần mẫn xích lại gần nhau, để xóa đi cái khoảng cách hơn 10 cm còn lại giữa chúng. Nếu theo tốc độ phát triển trung bình của nhũ đá do một số nhà nghiên cứu tính toán là chưa đến 1 mm trong 1 năm thì cũng phải hàng trăm năm nữa cái sự kiện giáp nối kia mới xảy ra.. Như vậy chỉ một sự thay đổi nho nhỏ ấy thôi mà đã phải trải qua quá trình hơn một đời người. Cũng giống như sự chuyển mình kiến tạo của thiên nhiên, để có được Vịnh Hạ Long kỳ vĩ ngày nay đã phải trải qua hàng trăm triệu năm. Tất cả những biến động kỳ diệu của tạo hóa vẫn đang diễn ra nhưng không ai có thể nhận thấy được. Vậy mà, chính tại nơi đây, trong những năm cuối của Thiên niên kỷ thứ 2 này, sự đổi thay của Vịnh Hạ Long lại được biểu hiện rõ nét từng ngày cả về hình thức lẫn nội dung. Điều dễ nhận thấy trước tiên, đó là những chuyển biến trong công tác quy hoạch, quản lý, sắp xếp lại trật tự các loại hình kinh doanh đầu tư tôn tạo, và phát huy những giá trị vật chất tại các trọng điểm phục vụ tham quan du lịch, nhằm mở rộng không gian và đa dạng hóa các sản phẩm du lịch… Bến tàu khách mới khang trang được đầu tư xây dựng tách ra khỏi khu vực Bãi Cháy. Ngày ngày, hàng trăm lượt tàu, thuyền chở khách du lịch ra vào bên dưới sự điều hành có trật tự, không còn cảnh tranh giành, bắt chẹt khách, gây lộn xộn như trước đây. Các tuyến tham quan trên Vịnh Hạ Long được công bố cụ thể, rõ ràng, tùy theo thời gian khách lựa chọn. Vịnh Hạ Long là điểm du lịch đầu tiên áp dụng phí tham quan một giá cho tất cả các đối tượng khách du lịch, và thực hiện bán vé một lần cho toàn tuyến tham quan. Các hàng quán dịch vụ được tổ chức gọn gàng, vừa thuận tiện phục vụ khách vừa giữa được cảnh quan toàn khu vực thắng cảnh. Từ giữa năm 1997, dọc bờ Bãi Cháy đã được Công ty liên doanh Hoàng Gia đầu tư cải tạo và trở thành công viên vui chơi giải trí, tắm biển hiện đại làm nổi bật khung cảnh sinh động của ven bờ Vịnh Hạ Long. Từ khu vực này, một số khách sạn mới, hiện đại được xây dựng cùng với việc nâng cấp cải tạo các khách sạn cũ mở ra một hệ thống dịch vụ lưu trú đủ sức đáp ứng nhu cầu của lượng khách đến Vịnh Hạ Long ngày càng gia tăng. Ngành du lịch Quảng Ninh đã có nhiều hoạt động tích cực nhằm đẩy mạnh công tác quản lý, nâng cao chất lượng dịch vụ của các doanh nghiệp tham gia hoạt động du lịch. Các đơn vị du lịch đã đầu tư tổng số hơn 227 tỷ đồng cho việc xây dựng mới, cải tạo nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, cho dịch vụ du lịch. Các ngành, cơ quan chức năng đã cải tiến, thực hiện đơn giản hóa các thủ tục đón khách nhanh, gọn, tạo thuận lợi tối đa cho du khách. Nếu như trước đây tại các hang động luôn xảy ra tình trạng lộn xộn, rác thải gây phiền hà cho du khách, thì ngay sau khi các hang động được giao cho Ban quản lý Vịnh Hạ Long trực tiếp quản lý, tình trạng trên đã dần được chấm dứt. Đặc biệt, một số hang động lớn đã được đầu tư hàng chục tỷ đồng để tôn tạo, vừa giữa được vẻ đẹp tự nhiên, vừa nâng cao giá trị thẩm mỹ, tạo điều kiện cho du khách tham quan thuận tiện, an toàn. Động Thiên Cung, Hang Đầu Gỗ, Hang Sửng Sốt là những hang động được tôn tạo theo ý tưởng riêng, với bố cục ánh sáng, kết cấu lối đi phù hợp với đặc trưng của mỗi hang động.
Hoàng Ly – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 25(129)2000

Bánh đa Ninh Giang – Hưng Yên

Từ chiếc bánh đa Kế (Bắc Giang) vùng đen chi chít như sao mọc trên vòm trời, đến chiếc bánh đa đường màu nâu của Kẻ Sặt – Hải Dương, Bánh đa Ninh Giang – Hưng Yên cho đến những chợ quê xa xôi hoặc bánh đa Thanh Hóa bẻ vào ăn cùng mỳ cùng bún hay chiếc bánh đa canh nấu với cua đồng rau rút tỉnh Hà Nam, ai chả từng một đôi lần bẻ nó bằng những ngón tay búp măng và sần sùi trong nắng trong gió đời người. Khác vào quán mộc tồn cũng ít quên nó khi nâng ly rượu trên tay, ăn món xuống âm phủ biết có hay không? Nhưng món bánh đa kê thì chưa chắc đã quen thuộc đến mức phổ thông phổ biến ấy. Có câu đố không biết từ đời nào: Mình tròn vành vạnh. Da trắng như ngà. Chị em phải lửa thì phình vú ra. Chị em ăn phải thịt gà thì tịt vú lại. Là chiếc bánh đa kê đấy. Kê còn có nghĩa là gà. Chiếc bánh đa nướng chín, nó phồng lên, lòi lõm như những chiếc bong bóng nhỏ, như những núm vú trinh nữ. Nhưng khi phết kê lên, những chiếc bong bóng này, những núm vú này xẹp lại, không còn khoe nữa. Chợ quê còn nghèo, món quà ngon mà rẻ này thường xuất hiện, cô gái đi chợ ăn quà, bà mẹ mua quà chợ về cho con ngồi đợi nơi bậu cửa, miếng bánh đa kê mới ngon làm sao. Hà nội nhiều sớm tinh mơ ta thấy có người phụ nữ áo nâu mộc mạc, quẩy gánh hàng rong, nhưng nhẹ tênh như lãng đãng. Người làng Lủ hay làng vòng, người Kiều Khúc hay Cổ Loa? Không biết, những món bánh đa kê thì lạ miệng lắm, nó thay cho món phở quen thuộc, thay cho bát bún ốc, cháo vịt xào măng, thay cho chiếc bánh bao bánh mì khô khốc… Ta ăn một bữa cho đổi lưỡi đổi mùa. Những mảnh bánh đa được cắt ra làm bốn, làm sáu từ lúc chưa nướng, bây giờ nướng xong, xếp trong thung, chúng mang hình chiếc quạt khép mở nửa chừng, nói như thơ Bà chúa thơ nôm nghịch ngợm Hồ Xuân Hương khi vịnh chiếc quạt mà ta hiểu nhiều bể:
Mười bảy hay là mười tám đây
Cho ta yêu dấu chẳng rời tay… Và Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày… Nhưng mảnh quạt chứa đầy ma lực ấy chắc nướng từ đêm qua, chỗ chín đã hết giòn, bên cạnh vẫn dai dai. Không sao cả. Bà hàng ngồi một góc ngã tư, mở chiếc khăn xô trắng lộ ra rá kê thổi chín, mặt đã se nhưng lòng nó vàng ươm, cầm chiếc thanh tre như đũa cả ngấn, hệt chiếc bơi chèo tí xíu, cũng giống chiếc đũa ăn bánh chưng trên đường xa nơi quán dọc đường, bà phết kê lên mảnh quạt bánh đa thuần thục một điệu múa của bàn tay thiện nghệ.
Băng Sơn-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Saigon Tourist vẫn đứng vững và luôn đi đầu

Tổng công ty du lịch Sài Gòn tên giao dịch là Saigon Tourist được thành lập vào cuối tháng 3 năm 1999 trên cơ sở phát triển từ Công ty du lịch Sài Gòn, một đơn vị đã có 25 năm phát triển. 10 năm gần đây Saigon Tourist đã mau chóng trở thành con chim đầu đàn của ngành Du lịch Việt Nam. Kể từ năm 1989 đến nay vốn của công ty tăng hơn 1000% từ 64,9 tỷ đồng đến 666 tỷ đạt 92 tủ đồng cũng tăng trên 1000%, doanh thu tăng 616% chưa kể doanh thu từ các liên doanh với trong nước và nước ngoài. Đến cuối năm 1998, Công ty đã có 27 cụm khách sạn nhà hàng, 53 cơ sở lưu trú trong đó 70% đạt tiêu chuẩn quốc tế, 41 cơ sở kinh doanh ăn uống, 63 văn phòng cho thuê, 26 phòng họp quốc tế, 5 tàu du lịch, 313 xe ô tô… hoạt động rộng khắp cả nước. Chính vì thế, đơn vị đã tạo được thế mạnh toàn diện trong cả kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống lẫn kinh doanh vận chuyển, lữ hành. Đặc biệt, Saigon Tourist đã hợp tác với hãng tàu biển Star Cruises của Malaysia ký hợp đồng đón 154 nghìn khách tàu biển và Việt Nam trong hai năm 1999 – 2000, đánh dấu một bước phát triển mới trong kinh doanh lữ hành. Bí quyết nào khiến Tổng công ty du lịch Sài Gòn ngày càng khẳng định vị thế vững chắc trên thương trường?
Không ngừng đổi mới công nghệ ứng dụng tiến bộ Bộ khoa học Kỹ thuật.
Hiếm có một doanh nghiệp Du lịch nào lại có riêng một đơn vị xây dựng với đội ngũ kiến trúc sư và kỹ sư xây dựng có trình độ cao như ở Saigon Tourist. Đội ngũ này không chỉ đáp ứng nhu cầu xây dựng sửa chữa trang trí khách sạn nhà hàng trong nội bộ Tổng công ty mà còn tham gia đấu thầu xây dựng khách sạn có nhiều đơn vị khác. Tất cả các khách sạn Saigon Tourist từ 2 sao trở lên hiện nay đều đạt tiêu chuẩn quốc tế theo hạng sao. Khi còn ở quy mô một công ty đơn vị đã tiên phong đi đầu trong áp dụng công nghệ truyền hình cáp vào việc kinh doanh của khách sạn. Ngay từ đầu năm 1992, Công ty đã liên kết với Đài truyền hình thành lập Công ty truyền hình Cáp. Đây cũng là đơn vị đi đầu trong việc áp dụng công nghệ thông tin để quản lý khách, quản lý kế toán tài chính, nhân sự… mở Website, và mạng Internet để tham gia thị trường du lịch. Điều đáng lưu ý là tất cả mọi công việc trên đều do phòng vi tính của đơn vị tự làm, nên giảm được tối đa chi phí thuê ngoài.
Đầu tư chất xám là chiến lược phát triển lâu dài, bền vững.
Ngay từ thời kỳ đầu thành lập, Saigon Tourist đã rất chú trọng đến chất lượng đội ngũ lao động. Phát triển cả về chất và lượng, đến nay Tổng công ty du lịch Sài Gòn có 4.939 cán bộ công nhân viên, trong đó là 100% đều được đào tạo vf đào tạo lại. Năm 1989, Trường Nghiệp vụ Du lịch và khách sạn trực thuộc đơn vị được thành lập. Kể từ đó đến nay, trường đã đào tạo được 8.154 học viên trong đó có 4.447 học viên là cán bộ công nhân viên của công ty. Thông qua hợp tác với các nước, đến nay đã có 45 cán bộ của công ty được gửi đi du học tại Mỹ, Pháp, Úc, Bỉ, Đức, Canada, Thái Lan, Ấn Độ. Năm 1995 – 1996 Saigon Tourist thực hiện chương trình du học tại chỗ cho 133 học viên bàn, bếp dưới sự giảng dạy của 3 giáo sư người Bỉ nổi tiếng châu Âu và mới các giáo sư của trường đại học Tafe Internatinal Western Úc giảng dạy môn quản trị khách sạn cho 49 học viên là cán bộ quản lý…có thể nói các chương trình đào tạo có chiến lược và kế hoạch rõ ràng, cụ thể với nhiều hình thức và điều kiện phù hợp với từng đơn vị, từng cá nhân đã mang lại cho Tổng công ty Du lịch Sài Gòn hôm nay một đội ngũ cán bộ, nhân viên năng động, nhạy bén. Vì thế dù ở bất cứ thời điểm thuận lợi hay khó khăn, Saigon Tourist vẫn đứng vững và luôn đi đầu trong các chỉ tiêu kinh doanh của ngành du lịch. Đây là vị thế xứng đáng của Saigon Tourist trong lĩnh vực kinh doanh du lịch. Với vị thế như vậy Saigon Tourist tin rằng và khẳng định rằng sẽ ngày càng vươn lên. Với những thành tích toàn diện mà công ty du lịch Sài Gòn đã đạt được trong 10 năm qua, ngày 29 tháng 12 năm 1999 Hội đồng thi đua khen thưởng của Sở du lịch thành phố Hồ Chí Minh đã xét và nhất trí đề nghị Hội đồng thi đua Tổng cục du lịch xét và đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động cho tập thể cán bộ công nhân viên của đơn vị.
Phạm Thúy-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.