Tôi thích sưu tập các giải thưởng lớn

Sau khi đoạt được huy chương vàng tại hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc năm 1999, nghệ sĩ tuồng Minh Gái đã được bè bạn gọi đùa là người sưu tập các giải thưởng lớn. Sinh ra tại miền quê An Khánh – Hoài Đức tỉnh Hà Tây, Minh Gái đã lớn lên cùng với những lời du, câu ca của mẹ. Những làn điệu dân ca đã làm bùng lên niềm say mê ca hát của Minh Gái. Với giọng hát trời phú của mình, Minh Gái luôn có mặt trong các buổi biểu diễn của làng, xã rồi cả huyện. Những buổi ca hát ở sân đình, những đêm biểu diễn dưới ánh trăng không cổng ấy là tiền đề cho tài năng của Minh Gái ngày càng nở rộ. Rồi duyên nghiệp với tuồng cũng đến khi năm 1979, Minh Gái được vào học tại trường Trung cấp Nghệ thuật, được tiếp thu có bài bản những nguyên lý, tiết tấu trong nghệ thuật tuồng, và sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô Bạch Trà, Quang Tốn, Mẫn Thu, Đàm Liên, Tiến Thọ… để sau đó được nhận ra làm việc tại nhà hát tuồng Trung ương. Minh Gái đã có nhiều vai diễn để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người xem như Đào Tam Xuân trong vở Đào Tam Xuân loạn trào, Nguyệt Hoa trong vở Sơn Hậu, Thứ phi trong Chiếc bóng oan khiên… Minh Gái cho biết: mỗi khi nhận được vai diễn là chị đều nghiền ngẫm, để diễn sát, diễn chuẩn, hóa thân vào nhân vật. Và nhờ vậy, chị đã lột tả được cái nét tinh túy của nghệ thuật tuồng. Chính nhờ sự tôi luyện như vậy mà giọng tuồng Minh Gái trở nên thân thiết với công chúng và được mọi người rất là mến mộ. Minh Gái đã đoạt huy chương vàng Hội diễn sân khấu toàn quốc năm 1990, giải nhất Cuộc thi tài năng sân khấu trẻ thủ đô năm 1991, Huy chương vàng Cuộc thi tài năng sân khấu trẻ toàn quốc năm 1991. Và một năm sau lại đứng lên bục cao nhất của Hội thi tiếng hát hay tuồng chèo. Năm 1996, chị lại đoạt giải nhất tại Liên hoan sân khấu nhỏ toàn quốc cùng với giải thưởng của Tạp chí Sân khấu dành cho nghệ sĩ xuất sắc nhất. Tại Hội diễn sân khấu Tuồng, dân ca kịch toàn quốc năm 1999 tại Nha Trang. Mai Gái được nhận Huy chương vàng và cũng trong năm đó chị được tặng Huy chương vì sự nghiệp sân khấu. Không chỉ trong nước, Minh Gái còn đem chất giọng tuồng sâu đậm biểu diễn ở Nhật, Singapore, Pháp, Tây Ban Nha… ở đâu giọng tuồng Minh Gái cũng được tán thưởng nhiệt liệt. Minh Gái đã cho nhiều người nước ngoài thấy được những nét đặc sắc tinh túy trong nghệ thuật tuồng chèo Việt Nam. Sau mỗi buổi biểu diễn, Minh Gái lại trở về mái ấm gia đình với Nghệ sĩ Hoàng Long người bạn học, bạn diễn, bạn đời và hai cậu con trai đang học lớp 9 và lớp 2. Ngôi nhà đầy ấp tiếng cười này là bệ phóng cho tài năng của Minh Gái. Với tuổi 39, Minh Gái sẽ đóng góp nhiều hơn nữa cho nghệ thuật tuồng Việt Nam.
Nơi quán quê hương
Ngồi bên nhau trong quán lạ quê hương
Tôi và em như lạc vào hoang dã
Suối róc rách, đèn mờ, lạnh giá
Những gì xa thân ngỡ đã quên rồi
Ngồi bên nhau gặm nhấm đắng cay
Càng rối bời khi buồn ập đến
Em đâu hiểu hồn tôi như biển
Sóng cồn lên cát trắng hóa chân trời
Chẳng dễ gì tôi vứt bỏ vàng tôi
Để theo em đến cùng trời cuối đất
Em run sợ tước tình tôi chân thật
Vai rung lên ép nước mắt chảy dài…
Chiều xuống rồi. Lặng lẽ chia tay
Nơi quán Quê hương không hẹn ngày gặp lại.
Trọng Nguyên -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Làm gì để rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và tuyển dụng hướng dẫn viên du lịch ?

Thời gian qua, trên một số báo, đặc biệt là Tuần Du Lịch, đã đăng tải ý kiến của nhiều chuyên gia về thực trạng sinh viên tốt nghiệp ngành Du lịch thuộc trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Kinh tế quốc dân, Đại học Mở….khi xin việc đã không được sự đón tiếp nồng nhiệt từ các công ty, nhất là khi những bạn trẻ này đang ấp ủ hy vọng được trở thành hướng dẫn viên du lịch. Thậm chí, có ý kiến cho rằng việc lựa chọn hướng dẫn viên tương lai từ các trường đại học khác (Ngoại ngữ, Ngoại giao, Ngoại thương….) sẽ hiệu quả hơn từ các trường có chuyên ngành Du lịch.
Tại sao lại như vậy ? Phải chăng do công tác đào tạo kém hiệu quả dẫn đến chất lượng sinh viên theo học ngành này khi ra trường không đạt chất lượng tối thiểu ? Đi tìm lời giải cho mâu thuẫn này, chúng ta có thể xem xét các khía cạnh sau.
Trước hết là quan niệm về hướng dẫn viên. Hướng dẫn viên du lịch đã thực sự được coi là một nghề ở Việt Nam chưa ? Thật khó khi trả lời dứt khoát câu hỏi này. Tại một số nơi, hướng dẫn viên được xã hội (thông qua cả nhà trường và công ty) chuẩn bị và đào tạo rất kỹ. Song trường hợp này rất hiếm. Đa phần, do yếu tố chủ quan thuộc các công ty du lịch, thị trường kinh doanh chưa được mở rộng, từ đó dẫn đến hoạt động kinh doanh của các công ty mang nặng tính thời vụ, và cũng vì vậy, mỗi công ty du lịch thường chỉ có từ 3 tới 5 hướng dẫn viên chính thức, hưởng lương hàng tháng. Còn lại đều trông chờ vào cộng tác viên. Phần lớn đội ngũ cộng tác viên hướng dẫn là những người làm công tác chuyên môn ngoại ngữ, đa số rất giỏi với trình độ nghiệp vụ và kinh nghiệm lâu năm. Việc các công ty du lịch thích sử dụng công tác viên hơn hướng dẫn viên chuyên nghiệp rõ ràng đã vô tình bó hẹp khả năng chọn lựa nghề nghiệp của các bạn trẻ mới ra trường.
Ở một khía cạnh khác, tuy không phủ nhận chất lượng đào tạo hiện nay của các khoa du lịch trong trường đại học, song cũng không thể không suy nghĩ thấu đáo về nó. Vấn đề này thuộc về nguyên nhân chủ quan của mỗi người sinh viên trẻ trước ngưỡng cửa cuộc đời. Đây là điều vô cùng quan trọng. Không hẳn bạn học bất cứ ngành nào như khoa Du lịch hay khoa Ngoại ngữ đều có thể trở thành hướng dẫn viên du lịch một cách dễ dàng. Do đặc thù và tính chất chuyên môn của nghề hướng dẫn đòi hỏi rất khắt khe đã khiến cho công việc này, xét ở nhiều góc độ, còn khó hơn rất nhiều những công việc khác trong ngành. Một hướng dẫn viên đồng nghĩa là người phải có trình độ ngoại ngữ giỏi để giao tiếp thông thạo cùng khách hàng, sức khỏe tốt để có thể làm việc liên tục trong môi trường bên ngoài với cường độ cao. Cùng với đó, phải có vốn kiến thức sâu rộng về tự nhiên, xã hội, lịch sử…..mà không ai cũng biết được. Để có lưng vốn đó, chỉ có con đường chịu khó học hỏi, nghiên cứu tài liệu trong cũng như ngoài nước, cổ cũng như hiện đại. Thật buồn khi có nhiều hướng dẫn viên ở một số trung tâm du lịch mà vẫn được biết dưới cái tên “Cafe du lịch” đều có khái niệm rất mù mờ về kiến thức du lịch tối thiểu, ví dụ như không phân biệt được các đảo ở Hạ Long thuộc loại đá gì, sự khác nhau giữa đền và chùa….Những kiến thức này tuy có thể được trang bị trong trường, song nếu không chịu khó tự đào luyện, tự thu nhặt và ghi nhớ trong bất kỳ cơ hội học hỏi nào thì khó có thể trở thành vốn tri thức riêng.
Như vậy, rõ ràng để trở thành hướng dẫn viên không dễ, và trở thành hướng dẫn viên giỏi thì thực sự là vấn đề rất lớn và rất khó. Nhất là trong những năm gần đây, với nhiều nguyên nhân, lượng du khách vào Việt Nam đang có xu hướng chững lại, trong khi số lượng sinh viên tốt nghiệp từ các trường không ngừng tăng lên. Cơ hội việc làm cũng vì thế càng trở nên khó khăn hơn đối với những ai không thực sự giỏi về nhiều lĩnh vực. Và bài toán về đào tạo và tuyển dụng hướng dẫn viên vẫn là câu hỏi làm đau đầu nhiều người.
Nguyễn Đức Hùng – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Công ty chè Mộc Châu sẽ mở tour du lịch sinh thái

Công ty chè Mộc Châu thuộc vùng Tây Bắc của Tổ quốc đang ăn nên, làm ra. Nhân chuyến công tác tại Tây Bắc, ông giám đốc Công ty phát biểu với phóng viên báo Du lịch: Công ty chè Mộc Châu đang chuẩn bị các điều kiện mở tour du lịch sinh thái. Nhân kỷ niệm 41 năm ngày Bác Hồ đến thăm Công ty, Du lịch xin trân trọng giới thiệu bài viết của giám đốc Công ty Lê Xuân. Ngày 8 tháng 5 năm 1959 Bác Hồ lên thăm nông trường Mộc Châu và tặng cán bộ, chiến sĩ và công nhân viên Nông trường 16 chữ vàng:
“Luôn luôn cố gắng
Khắc phục khó khăn
Tiến lên thật hãng
Làm tròn nhiệm vụ”
Giữa đất trời lộng gió, ngút ngàn màu xanh của cây chè cao nguyên, lời Bác dạy từ 41 năm qua vẫn vang vọng trong trái tim, khối óc của 1.757 cán bộ, đảng viên, Công nhân viên và người lao động của Công ty đang ngày đêm dành tâm sức cho cây chè, tạo ra những sản phẩm mang đầy hương vị của miền Tây Bắc. Không thể quên những năm tháng gian truân của lớp đàn anh, đàn chị, của trung đoàn 280 Sư đoàn 335 rời tay súng là một nắng hai sương, nổ mìn đánh gốc, cầy sâu vun xới để tạo ra một màu xanh cây công nghiệp. Còn nhớ từ 3 héc ta chè năng suất 2 tấn cho một héc ta, năm 1995 đã là 506 héc ta. Năng suất bình quân là 4,9 tấn cho một héc ta rồi trên 12 tấn cho một héc ta cao nhất toàn quốc năm 1999, doanh thu đạt 31.154 triệu đồng. Từ một đội chế biến chè tươi vài ba chục tấn cho một năm chủ yếu là sản phẩm nội tiêu, sau hơn bốn thập kỷ đơn vị đã có trong tay 3 nhà máy gồm 5 dây chuyền sản xuất từ nửa cơ giới đến tự động hóa đồng bộ của Nhật Bản, Đài Loan công suất từ 1.500 đến 2 nghìn tấn cho một năm, với các loạt sản phẩm như chè đen, chè xanh Nhật Bản, chè xanh Đài Loan, cùng các loại chè nội tiêu cao cấp và thông dụng. Sản phẩm của Công ty hôm nay không chỉ đoạt nhiều huy chương vàng cấp Nhà nước mà còn vươn tới nhiều nước châu Á, Đông u… Từ thiên thời, địa lợi, nhân hòa, trong quá trình phát triển Công ty đã thu được những thành quả hết sức quan trọng. 15 năm lại đây, trước cơn lốc của thời kỳ xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp chuyển sang hạch toán kinh doanh Xã hội Chủ Nghĩa, cây chè đã có lúc bị dồn đẩy đến bên bờ vực thẳm như năng suất tụt, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được bởi chất lượng, bởi không có thị trường, rồi nợ, có lúc lên tới 11 tỷ đồng, gần gấp đôi tài sản Công ty. Để cứu lấy cây chè, cứu lấy Công ty, tập thể Đảng ủy và Ban giám đốc trung tâm trí tuệ, đưa nghị định của Chính phủ vào thực tế của Công ty, khoán đồng chè 50 năm cho 1.184 hộ, đầu tư phân bón xây dựng 14 km đường ống dẫn nước tới 73 bể chứa nước phục vụ thâm canh, hoàn chỉnh hệ thống đường giao thông nội bộ với tổng chiều dài là 20 km, dọc ngang ở khắp đồi chè, năm 2000 làm thí điểm cơ giới hóa khâu đốn và thu hái, từng bước thay đổi giống mới có năng suất cao, chất lượng cao… Công ty cũng đầu tư hàng chục tỷ đồng để cải tiến nâng cấp máy móc thiết bị và hợp tác sản xuất kinh doanh với hai Công ty và tập đoàn lớn của Nhật Bản và Đài Loan để đa dạng hóa hàng hóa, đồng thời giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tổng sản phẩm hàng năm tăng dần từ 656 tấn vào năm 1995 lên tới 1.470 tấn năm 1999, doanh thu đạt 28 tỷ 381 triệu đồng năm 1999 vào năm 1995 chỉ đạt 8 tỷ 270 triệu đồng. Sản xuất phát triển, đời sống người làm chè cũng được nâng lên nhanh chóng, bình quân trên 680 nghìn đồng cho một tháng đối với một người. Nếu năm 1995 Công ty lỗ 1 tỷ 21 triệu đồng thì năm 1999 đã lãi 622 triệu đồng, nộp ngân sách nhà nước năm 1999 đạt mức 1 tỷ 812 triệu đồng. 2 năm 1998 – 1999 Công ty đã đầu tư giúp nhân dân xã Vân Hồ 460 triệu đồng bằng phân bón và giống chè, hướng dẫn nhân dân trồng mới 72 héc ta chè Shan, giúp nhân dân xã Tô mua hơn 1 trăm tấn giống chè, hướng dẫn nhân dân trong xã trồng mới 129 héc ta chè Shan, giúp nhân dân bản Chiềng Đi 150 nghìn tấn bầu chè giống mới, 650 tấn phân bón, hướng dẫn nhân dân trồng mới 8 héc ta chè chất lượng cao của Nhật Bản và Đài Loan và giúp nhân dân xã Lóng Sập 2 tấn giống ngô lai để bà con trong xã có giống ngô trồng kịp thời vụ năm 2000. Đồng thời trong những năm qua Công ty đã đầu tư xây dựng 4 phòng học cho trường phổ thông cơ sở 15 trên 10 và 2 phòng học cho trường tiểu học 14/6, xây dựng 1 cụm mẫu giáo cho trường mầm non Bình Minh và trường Thảo Nguyên và mới đây ngày 16 tháng 4 năm 2000 Công ty đã khởi công xây dựng cho trường Phổ thông cơ sở 14/6 một nhà hai tầng với 6 phòng học, tổng số vốn đầu tư cho cơ sở dạy và học của con em Cán bộ công nhân viên trong Công ty và khu vực trên 1 tỷ đồng. Mộc Châu cũng là mảnh đất lịch sử. Đối với chúng tôi những nương đồi chè xanh ngút ngàn, những bản làng dân tộc nguyên sơ… là những tiềm năng du lịch thật sự. Hiện Công ty chè Mộc Châu đang làm đường giao thông, sử sang lại, các nương chè, tu chỉnh lề lối làm ăn của đồng bào, chuẩn bị các điều kiện để mở tour du lịch sinh thái. Với việc mở tour du lịch sinh thái đến các vườn của đồng bào dân tộc và các nương chè xanh bát ngát, chắc chắn sẽ tạo cho du khách những phút giây thư giãn đầy ấn tượng. Cái thiếu của chúng tôi hiện nay là chưa có lực lượng biết nghề làm du lịch.
PV -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.