Kết quả liên hoan phim Việt Nam lần thứ 12

Ban tổ chức đã quyết định trao 20 giải thưởng chính thức bao gồm 3 giải Bông sen vàng, 17 giải Bông sen bạc và nhiều giải thưởng khác cho 6 nhóm thể loại, trong đó có giải Bông sen vàng thể loại phim truyện nhựa được trao cho bộ phim “Ngã ba đồng lộc” của đạo diễn Lưu Trọng Ninh, ba giải Bông sen bạc thể loại phim truyện nhựa được trao cho các phim “Những người thợ xẻ” của đạo diễn Vương Đức, “Hà Nội mùa đông năm 1946” của đạo diễn Đặng Nhật Minh “Ai xuôi vạn lý” của đạo diễn Lê Hoàng. Thể loại phim truyện Video không có phim nào đoạt giải Bông sen vàng, 3 giải bông sen bạc được trao cho các phim “Cha tôi và hai người đàn bà” của đạo diễn Vũ Châu, “Cầu thang tối” của đạo diễn Đào Bá Sơn và “Cha con ông mắt mèo” của đạo diễn Lâm Lê Dũng.
Cuộc tình sét đánh Bill Clinton – Monica và cuốn sách bán chạy nhất nước Mỹ vừa phát hành
Tháng 3 năm 1999 là tháng nổi danh của Tổng thống Mỹ Bill Clintơn. Ngày 24 tháng 3 năm 1999, Tổng thống Mỹ được cả thế giới kinh ngạc khi ông tuyên bố bắt đầu cuộc công kích của Mỹ và Nato vào Nam Tư, một hành động dã man cuối thế kỷ của thế lực hiếu chiến chống lại hòa bình. Trước đó, ngày 4 tháng 3 năm 1999, tổng thống Mỹ Bill Clintơn nổi danh khắp thế giới khi cuốn sách “Monica – câu chuyện của cô” được phát hành cùng một lúc tại Pháp và Mỹ với con số kỷ lục là 400 nghìn bản. Đây là cuốn sách do nhà văn Anh nổi tiếng An drew Morton người viết “Diana, sự thật về câu chuyện của công nương” viết theo lời kể của Monica về mối tình sét đánh của cô với Tổng thống Bill Clintơn. Nhà văn Andrew Morton thú nhận: “Monica là một người phụ nữ rất duyên dáng, rất thẳng thắn và rất thông minh. Tôi đã bị cuốn hút khi nghe câu chuyện cô kể suốt trong hai tuần lễ trong căn hộ của cô tại tầng 10 tòa nhà ở thành phố Los Angeles”. Vừa phát hành, cuốn sách “Monica và câu chuyện của cô” đã được giới báo chí châu âu và châu Mỹ chú ý. Nhiều nhà sản xuất bản lớn ở nhiều nước đã mua bản quyền xuất bản cuốn sách này. Với giá bán là 120 francs, 20 đô la Mỹ, 400 nghìn cuốn đã bán hết một cái vèo.
T.Đ – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (14(66))1999.

Kinh nghiệm quản lý của khách sạn Hải Cảnh (Trung Quốc) – Phần 2

Chữ “nghiêm” trong quản lý của khách sạn Hải Cảnh tựa hồ như sự “hà khắc”, “tiền nào không cần thì sẽ không lấy của khách”. Khách sạn không được chủ động giới thiệu các loại thức ăn đắt tiền, loại rượu đắt tiền mà chỉ cho phép khách chọn thức ăn tùy ý theo túi tiền và gu nghiện của mình. Các thức ăn còn lại trong các bữa tiệc, khách sạn đều làm hóa đơn thanh toán trả lại sòng phẳng. Xem qua các bản kiểm tra chất lượng phục vụ thấy có ghi: vải ga giường phòng 1111 có vết bẩn, trên thành bể tắm có sợi bẩn, gạt tàn có vết nước, kênh 10 ti vi xem không rõ…đã được khách sạn coi là nghiêm trọng cần khắc phục. Để có thể mò mẫn tìm ra một quy trình quản lý hiệu quả nhất, giám đốc Tống Lặc đã phải mất ròng rã 3 năm kinh doanh gian khổ, và cuối cùng đã sáng tạo ra một cách quản lý hiệu suất cao: quản lý kiểu lượng hóa bảng biểu di động. Trước tiên là quản lý lượng hóa bảng biểu toàn phương vị: quản lý mạng lưới tập thể, mỗi điểm đều đối ứng với một bảng biểu có thể thiết kế đặc biệt. Qua các bảng biểu, ghi chép toàn bộ các tiểu tiết tình hình phục vụ và kết quả kiểm tra phản ánh một cách chính xác thành tích thực của mỗi nhân viên tại mỗi cương vị công tác đồng thời cho điểm, coi đây là căn cứ bình xét thành tích sau này. Cái gọi là di động – nghĩa là bộ phận chủ quản không đặt chỗ làm việc cố định mà luôn cơ động kiểm tra không ngừng các cương vị mà họ quản lý, đồng thời phát hiện và xử lý các vấn đề tồn tại trong phục vụ. Thống kê cho thấy: mỗi một đơn vị chủ quản có kiểm tra trước ca, đôn đốc và chỉ đạo trong ca, kiểm tra sau ca, đồng thời làm đi làm lại 3 khâu trên, mỗi lần điều có ghi nhận xét vào bảng biểu. Cái gọi là kiểu “liên động” là trong quá trình quản lý không cố định, các cơ quan chủ quản và giám đốc luôn đi lại, hình thành một sự giám sát lẫn nhau, kiềm chế lẫn nhau trong trách nhiệm. Nếu nhân viên đó phục vụ kếm bị phạt thì cơ quan chủ quản và người phụ trách cũng bị phạt với tỷ lệ là 7 : 2 : 1. Hải Cảnh với khách quản lý trên đã đạt tới phong cách quản lý nhân sự: “Nghiêm trong hữu tình, hữu tình tất nghiêm và kết hợp giữa nghiêm với ấm áp tình người”. Đối với các nhân viên, khách sản Hải Cảnh có sự đãi ngộ thích đáng để cổ vũ cho làm việc, đồng thời cũng có hình phạt nghiêm khắc. Tiền lương của nhân viên khách sạn có ¾ được xác định theo: Đức, cần, lao, tích, làm nhiều hưởng nhiều. Khi có vấn đề phải bị phạt, ít thì 10 tệ nhiều tới hàng trăm tệ. Đối với người tốt việc tốt, khách sạn kịp thời biểu dương có kèm thêm một khoản tiền thưởng. Phía sau khách sạn có địa điểm riêng chuyên dán các thông báo phê bình, biểu dương công khai, rõ ràng. Khách sạn Hải Cảnh trên thực tế đã làm được câu: Nhà của khách cũng là nhà của nhân viên. Nhà ở của nhân viên có người chuyên trách quản lý, có gắn máy điều hòa, có khăn trải giường 3 ngày thay một lần sạch sẽ, gọn gàng. Trang phục nhân viên có số hiệu rõ ràng và được bảo đảm giặt là sạch sẽ… Tất cả những yếu tố trên đã chuyển thành sức mạnh mới thống nhất đưa khách sạn Hải Cảnh trở thành khách sạn có chất lượng phục vụ tốt nhất Trung Quốc.
ND – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (13(65))1999.

Kinh nghiệm quản lý của khách sạn Hải Cảnh (Trung Quốc) – Phần 1

Phục vụ khách vô hạn
Năm 1998, cơn sóng gió tiền tệ đã làm cho các khách sạn làm ăn thất bát. Khách sạn Hải Cảnh, Thanh Đào – Trung Quốc đứng trước tình trạng sa sút trên đã khắc phục bằng cách tăng cường công tác quản lý một cách khoa học, giảm giá phòng, tăng được doanh thu lên 8%, tỷ lệ cho thuê phòng và tỷ lệ khách nước ngoài tới thuê phòng đều tăng lên 10%.
Kinh nghiệm cải cách của khách sạn Hải Cảnh, theo tổng giám đốc Tống Lặc có thể đúc kết trong 2 vế: phục vụ khách hàng vô hạn và quản lý không thiếu sót.
Ông cho hay: “Xem khách hàng là thượng đế” là đúng, không sai. Đối với khách có quốc tịch khác nhau, có hoàn cảnh khác nhau về tuổi tác, giới tính khác nhau, các cán bộ phục vụ trong khách sạn đều nêu cao khẩu hiệu: phục vụ đáp ứng mọi đòi hỏi với khong có chữ “No” ở cửa miệng thường tạo cho khách một sự hài lòng mỹ mãn. Có vị khách thường hay uống vitamin C, khách sạn không có lập tức cử người đi ra ngoài mua ngay. Khách sạn có một quy định bất thành văn là: “Phàm khách của khách đều là khách của khách sạn”. Khi bạn đứng đợi khách tại trước phòng khách, các cô phục vụ sẽ phục vụ bạn một ấm trà nóng. Nếu bạn đến bằng xe tắc xi, khi xuống xe bạn sẽ nhận được một thẻ đăng ký xe với công ty để nhỡ có bỏ quên hoặc mất gì trên xe, nhân viên phục vụ sẽ lập tức bảo cho bạn: chớ lo, chúng tôi sẽ cố gắng tìm ra. Một khách Hàn Quốc tên là Lý khi rời khách sạn ra sân bay đã để quên chiếc túi trong có chứa 1917 đô la Mỹ, 21 vạn tiền Hàn Quốc, 2500 nhân dân tệ cùng với thẻ tín dụng, các điện thoại, giấy chứng minh, bằng lái xe ô tô, chỉ sau 1 tiếng đã được tìm trả lại. Về vấn đề “quản lý không có thiếu sót”, Tống Lặc giải thích việc quản lý của khách sạn là một hệ thống mạng lưới khống chế thời gian. Từ năm 1994, tới nay, với chiến dịch “nâng cấp sao, sáng tạo đi đầu”, khách sạn Hải Cảnh đã từng bước khẳng định mình với các kỷ lục: làm thủ tục mở cửa phòng chỉ mất 4 phút, thủ tục thanh toán chỉ mất 5 phút và có mặt tại hiện trường khi có sự cố bất ngờ chỉ mất có 3 phút. Để đảm bảo chất lượng phục vụ đạt tới mức cấp sao cao hơn, năm 1995 trước khi khách sạn khai trương, tổng giám đốc đã trước sau đưa các nhân viên tới 17 khách sạn nổi tiếng học tập, và khảo sát, qua đó tổng hợp thành các quản lý riêng của khách sạn Hải Cảnh là: Cao, nghiêm, tỷ mỷ, thực tế. Có thể nói đây là 4 cột trụ chính tạo nên mạng lưới quản lý tập thể của khách sạn.
ND – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (13(65))1999.

Du lịch Gia Lai từng bước tự hoàn thiện mình để phát triển – Phần 2

Ông Huỳnh Xuân Hiệp: Để tiếp kịp dịch vụ du lịch miền xuôi, những năm gần đây du lịch Gia Lai đã từng bước hoàn thiện mình để phát triển thông qua việc liên doanh liên kết đưa đón khách du lịch đến Gia Lai và khác từ Gia Lai đi đến các địa phương trong nước và ra cả nước ngoài, bằng nội lực của mình du lịch Gia Lai đang trong thời kỳ đổi mới và nâng cấp các cơ sở phục vụ lưu trú du lịch. Hướng đến thế kỷ XXI, Gia Lai đang đầu tư cho quy hoạch tổng thể, phát triển đến năm 2010, khi quy hoạch được duyệt thì đó là cơ sở du lịch được phát triển. Tôi tin tưởng rằng những năm tới sẽ là bước nhảy vọt của Du lịch Tây Nguyên nói chung và du lịch Gia Lai nói riêng, vì lẽ ngày nay du lịch sinh thái đang dần được thay thế cho du lịch nghỉ mát và tăm biển, mà du lịch sinh thái là thế mạnh của vùng rừng Tây Nguyên… Đến năm 2000, các dự án ưu tiên đầu tư gồm: Các loại hình thể thao vui chơi giải trí, du lịch văn hóa, tham quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, không khuyến khích xây dựng khách sạn mà khuyến khích đầu tư đổi mới thiết bị, nâng cấp các cơ sở lưu trú hiện có cho phù hợp với thị hiếu ngày càng cao của khách.
Phóng viên: Là một tỉnh có nhiều danh lam thắng cảnh lại nằm trên trục lộ giao lưu quốc lộ 14 có đường biên giới với nước bạn Campuchia, Gia Lai đánh giá như thế nào về tiềm năng du lịch của tỉnh và có hướng phát triển thành một trung tâm du lịch của miền Trung như Nha Trang, Đà Nẵng, Huế, hay không? Ông Huỳnh Xuân Hiệp: Trên phương tiện nghỉ ngơi và du lịch, Gia Lai có thể được xem là vùng đất có nhiều tiềm năng về du lịch bởi vì: Điều kiện khí hậu, có nhiệt độ thích hợp và ổn định, không có những cơ sở công nghiệp lớn, gây ô nhiễm nên không khí rất trong lành, có tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn phù hợp cho phát triển du lịch, nhất là du lịch sinh thái, có các di tích lịch sử được Nhà nước xếp hạng… với lợi thế về điều kiện tự nhiên và xã hội, lẽ ra du lịch Gia Lai phải là một ngành kinh tế phát triển nhưng do điều kiện kinh tế xã hội của địa phương còn gặp nhiều khó khăn nên việc đầu tư cho phát triển du lịch là không đáng kể. Trong tương lai gần với chính sách mở cửa của Nhà nước, tin tưởng rằng cửa khẩu 19 Đức Cơ thuộc tỉnh Gia Lai sẽ được xây dựng bề thế để đón khách từ Thái Lan, Campuchia, Lào,… Du lịch qua đường bộ vào Việt Nam, để du lịch Gia Lai phát triển tôi không dám nghĩ có bằng Nha Trang, Đà Nẵng, Huế… hay không, nhưng tôi tin tưởng rằng chỉ ít năm nữa khi mà du lịch Gia Lai được nhìn nhận một cách đúng mức thì nó sẽ phát triển và hấp dẫn không kém các trung tâm du lịch trong cả nước.
Phóng Viên: Để thực hiện được những dự định này du lịch Gia Lai còn vấp phải những khó khăn gì?
Ông Huỳnh Xuân Hiệp: Như đã trình bày ở trên, khó khăn trước hết và lâu dài đó là nhịp độ tăng trưởng kinh tế của tình còn thấp so với một số địa phương của cả nước, nên nguồn vốn dành cho du lịch chưa được nhiều. Tiếp nữa, theo tôi về mặt chủ quan đó là sự chậm đổi mới các hoạt động và phương thức kinh doanh dịch vụ du lịch của những người trực tiếp làm công tác du lịch của địa phương, về phía khách quan tôi cho rằng các cấp, các ngành chưa quan tâm đúng mức về vai trò, vị trí và tầm quan trọng nhiều mặt của du lịch. Mặt khác còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành liên quan, các cấp chính quyền địa phương để phát triển du lịch. Do đó du lịch Gia Lai thực hiện được những dự án phát triển của mình càng sớm càng tốt, phải giải quyết được những vấn đề nêu trên/
Phóng viên: Xin cảm ơn ông!.
Trần Đình Cầu – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (13(65))1999

Du lịch Gia Lai từng bước tự hoàn thiện mình để phát triển – Phần 1

Phóng viên Báo tuần du lịch trò chuyện với ông Huỳnh Xuân Hiệp, Phó giám đốc sở Thương mại – Du lịch tỉnh Gia Lai.
Ông Huỳnh Xuân Hiệp: Gia Lai là một tỉnh miền núi, điển hình phía Bắc của Cao Nguyên Việt Nam nằm phía Bắc của Cao Nguyên – Trung Trung Bộ, Gia Lai có diện tích là 15.573 km vuông với 2 phần 3 diện tích là núi rừng nằm ở độ cao là 6 đến 800 mét so với mặt nước biển. Với dân số gần 900 nghìn người. Trong nhiều năm qua Gia Lai vẫn là một trong những tỉnh có nhịp độ phát triển kinh tế chưa cao. Cơ cấu kinh tế của tỉnh hiện vẫn là Nông Lâm – công nghiệp. Dịch vụ du lịch hiện còn là một ngành du lịch kém phát triển. Ngành du lịch Gia Lai ra đời còn mới mẻ so với các ngành kinh tế khác ở địa phương, hoạt động trong phạm vi địa bàn còn hẹp và quy mô còn nhỏ, ảnh hưởng của du lịch Gia Lai mới chỉ tác động đến thị trường khách nội địa chưa có khả năng vươn ra thị trường khách quốc tế. Khách du lịch biết đến Gia Lai chưa nhiều, nguyên nhân chính là sản phẩm du lịch của Gia Lai chưa thật sự hấp dẫn mới khai thác ở dạng tự nhiên như du lịch sinh thái, du lịch văn hóa ở vùng dân tộc ít người và thăm chiến trường xưa. Trong mấy năm gần đây công ty du lịch có đầu tư nhưng không đáng kể. Như du lịch đi voi, xây dựng lễ hội văn hóa ở làng, công tác quảng bá và tiếp thị có làm nhưng chưa tốt và không thường xuyên. Hiện tại ngành du lịch Gia Lai đang quản lý 15 cơ sở kinh doanh lưu trú (9 khách sạn, 6 nhà khách). Với tổng số buồng là 334 phòng, trong đó có 146 phòng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Về cơ cấu doanh thu: Chủ yếu vẫn là doanh thu kinh doanh thương mại và lưu trú, doanh thu lữ hành chiếm tỷ lệ không đáng kể gần bằng 5%, đã nói trên. Thực trạng của Du lịch Gia Lai là khách đến Gia Lai với mục đích du lịch không nhiều chủ yếu là khách đi làm ăn và thăm thân nhân. Về dịch vụ lưu trú, với cơ sở vật chất hiện tại, hàng năm Gia Lai có thể đón từ 120 nghìn đến 150 nghìn lượt khách nhưng thực tế những năm qua công suất sử dụng phòng bình quân chưa đạt quá con số là 50%, năm 1997 chi đạt là 32%, và 1998 là 45%, riêng công suất buồng phòng của khách sạn trực thuộc công ty du lịch khá hơn là 60 đến 70%. Các dịch vụ vui chơi giải trí ở Gia Lai, không nhiều mới chỉ xuất hiện ở khu vực thị xã Pleiku được 2 bể bơi 1 của tư nhân đã bị đóng cửa, 1 của nhà nước. 5 sân tennis, 1 công viên thường xuyên vắng khách và 1 công viên Trung tâm thị xã đang trong quá trình xây dựng. Về di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh mới chỉ được xác định trên các văn bản hành chính, về thực chất Du lịch chưa có điều kiện để đầu tư khai thác, do đó nó chưa là sản phẩm du lịch.
Phóng viên: Trong hành trình đi đến thế kỷ thứ XXI, Gai Lai có hướng phát triển du lịch như thế nào.
Trần Đình Cầu – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (13(65))1999.

Mở rộng và phong phú hóa – Phần 2

Lượng khách du lịch nội địa đã tăng trên 20% và đó là một nét mới trong hoạt động của ngành trong năm 1998. Lẽ dĩ nhiên, nếu nhìn và so sánh những số liệu thì chúng ta có thể bi quan, nhưng chúng tôi cho rằng trong khi đương đầu với những khó khăn trong giai đoạn vừa qua, chúng ta đã ít nhất tìm ra chìa khóa của sự phát triển: Sức mạnh nội lực của Việt Nam, thế mạnh của một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, thế mạnh của một thiên nhiên còn nhiều nét hoang sơ, kỳ bí, một vùng du lịch sinh thái ở vùng ngập mặn Cần Giờ là một thí dụ. Nhiệm vụ của ngành du lịch như vậy lại nặng nề hơn. Đó là các hoạt động phải mang tính sáng tạo, có văn hóa cao, có sự đầu tư công sức chứ không phải chỉ khai thác những sản phẩm du lịch thô, mới qua sơ chế, chúng ta sẽ phải xây dựng một chiến lược, một chính sách khách hàng phù hợp chứ không thể làm theo kiểu tự phát và tùy tiện được. Mặt khác, ngày càng rõ hơn là cần phải xã hội hóa cao trong hoạt động của ngành du lịch.
Phóng viên: Trong tổng kết và đánh giá của Thành phố Hồ Chí Minh vấn đề phối hợp liên kết các tỉnh, thành để hoạt động du lịch là rất quan trọng. Xin bà cho biết sự phối hợp với đồng bằng sông cửu long.
Bà Trương Ngọc Thủy: Theo nhiều chuyên viên trong và ngoài nước Đồng bằng sông cửu long là một khu vực có những thuận lợi cơ bản để phát triển du lịch sinh thái hấp dẫn nhất nước. Chúng tôi đồng ý với đánh giá ấy. Đồng bằng sông Cửu Long với thế mạnh về sông nước, về thiên nhiên hoang dã và quyến rũ, một vùng lúa và cây ăn trái rộng lớn và rất phong phú. Hợp tác với đồng bằng sông Cửu Long sẽ mang lại lợi ích của Thành phố Hồ Chí Minh và lợi ích của các tỉnh đồng bằng. Hiện nay gần như tất cả các tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long đều đặt chi nhánh ở thành phố Hồ Chí Minh và gần như tất cả các công ty du lịch lữ hành ở Thành phố Hồ Chí Minh đều có liên kết mở các tour, tuyến tại đồng bằng. Việc phát triển mối quan hệ với đồng bằng sông Cửu Long trong các năm tới sẽ sâu rộng và chặt chẽ hơn nữa theo các nguyên tắc chung. Tăng cường sự thông tin trong hoạt động và quản lý nhằm ngăn ngừa việc cạnh tranh không lành mạnh làm giảm chất lượng dịch vụ du lịch, gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động du lịch của các bên. Cùng nhau thực hiện việc quảng bá, quảng cáo, tiếp thị, cung cấp cho du khách những thông tin cần thiết của thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, giúp họ chọn lựa được những sản phẩm du lịch chất lượng cao. Cùng đầu tư để tôn tạo và bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, đầu tư cho những công trình văn hóa, những vui chơi giải trí có đẳng cấp cao, bảo vệ những di sản văn hóa….
Phóng viên: xin cảm ơn bà!
Thúy Thúy – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (1 + 2(53+54))1999. Đọc tiếp Mở rộng và phong phú hóa – Phần 2

Mở rộng và phong phú hóa – Phần 1

Hoạt động du lịch ngang tâm một ngành kinh tế mũi nhọn
Bà Trương Ngọc Thủy, giám đốc Sở du lịch Thành phố Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn báo Tuần Du lịch.
Phóng viên: Năm 1998 là năm đầy ắp những hoạt động của thành phố kỷ niệm 300 năm Thành phố Hồ Chí Minh. Du lịch thành phố đã làm được những gì?
Bà Trương Ngọc Thủy: “Sài gòn 300 năm” có thể là nói là một kỷ niệm đặc biệt quan trọng của đời sống Thành phố này. Đây là một cơ hội để du khách trong và ngoài nước và ngay cả người dân ở đây tìm biết về lịch sử hình thành và phát triển, về đất nước và con người, về nét văn hóa nghệ thuật của người Sài Gòn… Ngay từ đầu năm, ngành du lịch thành phố Hồ Chí Minh đã tập trung giới thiệu về thành phố Sài Gòn là 300 năm và làm hết sức để du khách thích thú và yêu mến thành phố. Chúng tôi đã xây dựng một chương trình hoạt động cho cả năm 1998 và đặc biệt tập trung vào những ngày cuối năm này. Các lễ hội truyền thống, liên hoan văn hóa ẩm thực, các chương trình biểu diễn văn hóa nghệ thuật, cuộc thi hướng dẫn viên du lịch, lễ hội hoa đăng, những tour du lịch mừng Noel và tết dương lịch… Đó là những hoạt động bề nối dễ nhận thấy.
Nhưng quan trọng hơn là một cuộc vận động sâu rộng để mở rộng và phong phú hóa hoạt động du lịch ngang tầm một ngành kinh tế mũi nhọn trong đó vận động toàn ngành tìm kiếm và mở rộng thị trường, chú trọng du lịch sinh thái, phát triển các dịch vụ du lịch và các điểm vui chơi giải trí, gắn điểm du lịch với các khu di tích, tham gia trùng tu và tôn tạo các di tích các thắng cảnh, mở rộng các hoạt động liên kết với các tỉnh với quốc tế đổi mới cơ chế quản lý, củng cố bộ máy và nâng cao năng lực của công tác quản lý nhà nước đối với ngành du lịch, ngăn ngừa những tiêu cực và thiết lập trật tự trong kinh doanh du lịch để không ảnh hưởng xấu đến lợi ích của hoạt động du lịch … là nhiệm vụ rất quan trọng. Chúng tôi đang chăm chút cho từng sản phẩm du lịch, hình thành trung tâm quảng bá và xúc tiến phát triển du lịch, đang vận động mở rộng sự phối hợp tác liên kết, với các ban ngành và các cơ quan hữu quan để nhằm vào việc: An toàn cho du khách, giúp cho du khách, những ngày thoải mái ở Việt Nam, cung cấp cho họ những sản phẩm du lịch Việt Nam có chất lượng cao. Chúng tôi đang thúc đẩy bộ máy toàn ngành học tập và nghiên cứu những mô hình phát triển du lịch tiên tiến trên thế giới.
Phóng viên: Và kết quả cụ thể là?
Bà Trương Ngọc Thủy: Có những kết quả có thể thấy ngay nhưng có những mặt công tác có tính chiến lược mà hiệu quả sẽ phát huy lâu dài. Trong bối cảnh của sự suy thoái kinh tế toàn khu vực và nền kinh tế của đất nước ta cũng chịu những ảnh hưởng tiêu cực nhất định thì việc giữ được lượng du khách nước ngoài đến Việt Nam – đặc biệt trong bối cảnh lượng khách du lịch chiếm tỷ trọng lớn là từ những nước đang chịu sự suy thoái nặng nề là một việc rất khó khăn. Tuy nhiên phải nói rằng, chúng ta đã có nhiều thành công trong việc tổ chức phát triển du lịch cho người Việt Nam chúng ta.
Thúy Thúy – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (1 + 2(53+54))1999.

Thi hứng nhà hàng

Ba vị sếp nọ hẹn gặp nhau tại nhà hàng Hương đêm để vừa bàn chuyện làm ăn, vừa tiêu khiển giải trí sau những tháng ngày xa cách nhau. Qua chuyện trò của ba sếp, ả cave xinh đẹp của nhà hàng biết được họ là ba quan tham đang làm giàu bất chính bằng ba con đường khác nhau. Đợi cho men bia ngấm làm ba vị say khướt, ả cave mới õng ẹo, lả lơi sà vào bàn ba vị và hỏi:
Ba sếp làm ăn nhớ đường nào
Mới lên làm sếp sắm nhà cao
Vợ đẹp, con khôn, xe đời mới
Thử bày cho em được không nào?…
Sếp thứ nhất còn trẻ lắm, hôn cái chụt vào má ả cave, vỗ ngực khoe khoang:
Trăm mối làm ăn bằng nhiều đường
Anh nhờ “Quan Lộ” mới lên hương
Chỉ cần tài xoay và tài móc
Xoay, móc trong dân thật lắm đường…
Sếp thứ hai đã trung tuổi, lấy tay ôm ngang bụng ả cave và ngân nga bằng cái giọng bia lè nhè:
Anh nhờ “Quốc lộ” mới liên doanh
Nhờ con đường ấy mới giàu nhanh
Phết phẩy, anh trổ tài làm xiếc
Vốn trên cấp xuống… biến hóa nhanh!…
Sếp thứ ba có cái đầu hói, bụng phệ, trước người đẹp có vẻ ta đây “nghiêm chỉnh” hơn, nhưng cũng lấy tay “nắn yêu” trên má người đẹp, thong thả ngân nga:
“Quan lộ, quốc lộ”, hai con đường
Hai anh giàu xổi, bất bình thường
Không được bền lâu, không chắc chắn
Đổ bể ra tòa, chẳng ai thương!…
Còn anh từ ngày được làm quan
Họ hối lộ anh rất nhiều vàng
Anh giàu nhờ con đường hối lộ
Đường này với anh còn thênh thang!….
Nghe đến đây, ả cave liền gạ gẫm…
Em nghe hết chuyện làm ăn của ba sếp rồi đó nghe! Phải thưởng cho em đó, không thì… quan lộ, quốc lộ, hối lộ, em sẽ…. tiết lộ hết đó nghe!
ấy chết! Đừng có đùa nghe cưng! Những chuyện ấy mà bị bại lộ thì bọn anh hết đường làm ăn đó!
Thấy ba sếp có vẻ bắt đầu … say tình, ả cave tiếp tục tán thưởng.
Ba sếp giàu lên nhờ… ba đường
Sếp nào em cũng thấy thương yêu
Nhân dịp rửa đường ta vui vẻ
Thưởng em chút ít… lộc con đường
Cả bọn cười ré lên… Nhạc du dương, êm ái đèn phụt tắt, chỉ có ánh sáng mờ ảo… Sau cuộc thi hứng ấy, chắc chắn là cuộc tình hứng cave.
Ngô Xuân Hội
Giá như ngày ấy…
Giá như ngày ấy em, anh
Tình không tan vỡ ta thành lứa đôi
Chắc là cũng giống mọi người
Lúc thăng lúc giáng ở nơi quê nhà
Em làm cô giáo trường xa
Sáng lên đứng lớp chiều ra ruộng đồng
Nón mê váy xắn quai cồng
Chửi mèo mắng chó trách chồng ất ơ
Còn anh ôm mộng văn thơ
Ăn cơm hạ giới ngồi cơm trên trời
Nhưng tình tan vỡ… thế rồi
Anh theo bạn đến xứ người tha phương
Như là không có quê hương
Như là không có em thương một lần
Giữa bao nhiêu sự vui buồn
Chuyện xưa khi nhớ khi quên vọng về
Hỡi người một thuở anh mê
Giá như ngày ấy em thề sắt son
Hẳn là ta đã có con
Hẳn con ta đã lon ton khắp nhà
Hẳn nhà ta có mẹ già
Có giàn mướp ngọt vàng hoa mẹ trồng
Còn bây giờ anh ước mong
Giá như ngày ấy… không có gì!
Nguyễn Trọng Trung
Không em
Anh nằm thức với ngày mai ở đây
Hà Nội em đêm nay có nghỉ?
Một thoáng hao gầu không nói
Mệt mỏi hay là lo âu ước mơ?
Em ơi, ngày mai có gì thế?
Có gì thế mà trong bút anh đặc quánh
Viết không ra chữ
Nghĩa vươn qua chữ
Nghẹn ngào trái tim đập con nước nhỏ
Con nước nhỏ muốn dâng tràn
Những bờ bến khác
Thôi em hãy đợi, anh đợi cho dù những ngày nay
Đâu còn giờ chờ đợi
Giữa giấc ngủ một tuần trời
Du lịch không em. Tháng 12 năm 1998.
Vũ Tú Nạc – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (1 + 2(53+54))1999.

Nuối tiếc – Phần 4

Còn cô em gái chẳng ai màng, nên ở vậy đến già rồi chết. Quế tìm củ Hà Thủ Ô, đến bên ao Nhà Nụ để rửa mặt. Bà thấy một đôi giầy xăng đá trên bờ, mặt ao thì nổi lềnh bềnh một cái mũ phở. Không biết linh tính hay trời xui đất đẩy thế nào mà bà Bính cứ yên trí là thằng con trai đã về đây, vì tủi nhục mà chảy xuống nước. Bà hồ nghi, cầm đôi giầy lên mũi ngửi. Thôi đích thị thằng con trai bà rồi. Mùi hôi chân của nó thì bà biết rõ lắm. Thế là hai ông bà với cô con gái lẳng lặng làm đám ma, đắp một cái mộ giả kín đáo trong núi, bên cạnh ao Nhà Nụ. Cả làng không ai hay biết gì cho đến trước lúc cô con gái chết. Cô ấy kể lại đầu đuôi. Bây giờ cái mộ ấy vẫn còn. Ai đi qua đó cũng nhổ một bụi cỏ hay nhặc cục đất quẳng vào cho kẻ xấu số. Có những đêm trời quang mây tạnh hẳn hoi mà như giông bão, một con chim đen bay lên trên làng xóm hét lên những tiếng ai oán như chim lợn. Người ta bảo đó là hồn thằng con trai bà Bính đi làm phải đang than khóc, sám hối….Nghe cháu nói ông đi tìm chuyện lạ trong làng. Tôi biết gì kể nấy để ông nghe… Bà cho thêm một thanh củi, ngừng nói. Ông ngồi như một khúc gỗ bên bếp. Ông vốn không tin những chi tiết hoang đường của truyện dân gian nhưng giờ thì ông thấy rõ chúng chỉ hoang đường một nửa. Ông biết cái ao nhà nụ đó. Núi Quế ai đắp mà cao – cái ao Nhà Nụ ai đào mà sâu… Câu ca cùng với cái ao trong ký ức trẻ thơ của ông nay chỉ còn như một giọt nước mắt xanh lơ. Thằng con trai ông lang Bính không làm phỉ. Nó chưa từng nhảy xuống cái ao nhà để sám hối. Nó chỉ là một con người kém may mắn, một hạt bụi đáng thương theo gió đưa đi, vẫn trơ trọi một mình trong thế gian như một hạt bụi. Người kể chuyện dân gian, hãy kể thêm đi, hãy thêu dệt thêm đi cho những câu chuyện răn dạy con người của bà. Vai ông oằn xuống như quá sức chịu đựng một huyền thoại đã phủ lên chính cuộc đời ông.
Sáng hôm sau, ông bảo Duyên đưa mình lên núi Quế. Cô gái đi trước, ông theo sau. Mùi thơm từ tóc thiếu nữ lẫn với mùi hoa đồng cỏ nội, những chiếc lá sim bị xéo nát, mặt ao trong xanh làm ông ngây ngây, tỉnh táo như vừa được sống lại. Hai bác cháu đến bên ngôi mộ đất không hài cốt, không tên tuổi, ngôi mộ hàng chục năm nay người ta tưởng là của chính ông. Theo thói quen của dân làng, Duyên ngồi xuống nhặt một hòn đất quẳng lên cái nắm đất đã to một cách khác thường. Bần thần, lơ đãng, ông làm theo cô gái như một kẻ mộng du. Kim Giang – 1998.
Nguyễn Quang Thân – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (6,7,8(99))1999. Đọc tiếp Nuối tiếc – Phần 4

Nuối tiếc – Phần 3

Cuối cùng là Paris, cái túi đựng rác rưởi lẫn thiên thần. Bố mẹ ông mất trong tay đứa em gái. Nó ở vậy không lấy chồng vì nó không đẹp, lại nặng gánh, một người cùng làng gặp ông ở Paris kể lại với ông thế. Nó lo xong hai đám tang thì thân tàn ma dại, lên một cơn sốt rét ác tính rồi mất. Ông không biết bố mẹ và em mất ngày nào. Bà vợ ông, ấy là nói ngày bà còn sống với ông, tổ chức một ngày giỗ chung vào rằm tháng bảy hàng năm. Ở Paris giỗ Tết chẳng là vấn đề gì. Nghe ông nói, cô gái, bây giờ ông đã biết cô tên là Duyên còn cô thì chẳng bao giờ nhắc đến tên ông dù chắc chắn xem hộ chiếu. Thực ra ông không có tên. Ông thấy cái tên của mình chẳng dùng để làm gì ngoại trừ khi đến nhà băng rút tiền trong cái chương mục chắc chắn là vẫn còn rất nhiều sau khi ông chết. “Hay là bác ở lại nhà bố mẹ cháu vài hôm rồi hẵng đi?”. Cô gái nghe ông nói, đề nghị cô rất muốn ông nhận lời. Chuyến thăm quê lần này, cô không tốn kém gì ngoài những hộp bánh Trung Quốc làm quà cho bố mẹ. Ông nhận lời, thêm một điều kiện: Đừng bảo bác ở Pháp về. Hãy nói bác là một người sưu tập truyện dân gian”. Thực ra đó cũng là chút nghề mọn của ông. Ông có viết một cuốn sách mỏng kể lại những truyền thuyết vùng Hạ Lào. Cuốn sách được in ở Pháp rồi bị rơi vào quên lãng. Cô gái mừng rơn. “Cháu sẽ bảo thế. Mà mẹ cháu là tay chuyện đấy bác ạ. Nếu bác định thu thập truyện dân gian thì hỏi chuyện mẹ cháu ấy. Làng mình có khối chuyện hay”. Mẹ Duyên hầm mộ nồi ngô bung với đỗ để ông khách “sưu tầm truyện dân gian” và cả nhà ăn vào ngày mai. Bà đã trên sáu mươi tuổi nhưng còn nhanh nhẹn, chắc hồi trẻ bà cũng mỏng mày hay hạt như cô con gái – ông nghĩ bụng. Ông ngồi bên bếp lửa, cạnh người chồng cứ vài phút lại rít một điếu thuốc lào tận nõ. “Ông làm một điếu”. Ông ta mời. Ông ta bị sặc ngay khi đặt miệng vào, cái điếu cầy đổ chỏng chơ. Bà vợ vừa đẩy củi vừa kể: “Ông có biết cái ao Nhà nụ làng này không? Nó nằm trên lưng núi Quế, miệng ao chỉ bằng cái giếng nhưng sâu thăm thẳm, mấy ông lão làng này đã nối hai trăm sợi dây mũi trâu, đầu dây cột đá rồi thả xuống mà nó vẫn căng như dây đàn. Nước ao gọi là nước mắt mèo, xanh leo lẻo. Ngày xưa, trong làng có ông bà lang Bình, sinh được hai đứa con, một trai, một gái. Thằng con đầu thông minh đĩnh ngộ nhưng phóng đãng, lên tám tuổi đã trốn khỏi nhà, theo lũ buôn trâu ngược rừng Lào, rồi đi mất. Người ta đồn lớn lên nó xưng vua phỉ, cho quân chiếm mấy cánh rừng bên mái Tây núi giăng Màn, Tây đến nó đánh mà tay hay Lào nó cũng đánh. Tiếng tăm nó như thế nên hai ông bà rất khổ. Có ai sung sướng được khi nghe tin con mình làm giặc hả ông? Ông chồng thì tóc bạc phau sau có một đêm, bà vợ thì gầy mòn như hậu sản.
Nguyễn Quang Thân – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (6,7,8(99))1999.