Câu cá xưa và nay

Đêm đông gió bắc lạnh lùng
Đèn khuya heo hắt lần từng dây câu
Cá ơi ta đợi đã lâu
Úc kia, chình nọ dính câu hàng đàn
Từ rất lâu, câu cá đã là thú vui của nhiều người. Khi cơn mưa đùa mùa vừa tới, dân câu chuyên nghiệp nhìn dòng nước để phán đoán lúc nào có thể đi câu giăng. Họ chỉ cần một chiếc thuyền có mui vừa đủ che 3 người ngồi, rồi men theo bờ sông, lựa chọn đoạn hẹp để đóng cọc hai bên bờ và giăng dây câu. Dây câu bằng cước 2 ly, dài độ vài trăm mét được giăng dưới mặt nước 0.5m. Dọc dây câu, người ta treo những thẻo câu bằng cước 1.5 ly, dài chừng 2m, đầu lưỡi câu thì mốc mồi bằng giun đất. Các thẻo câu cách nhau 1m. Trên một đoạn sông có đến hàng chục dây câu. Khi đã hoàn thành công việc, họ cùng vào trong mui thuyền đi dọc dây câu xem xét, thấy cá mắc mồi thì kéo lên. Với dân chuyên nghiệp, câu các là nguồn sống, vừa là thú vui của họ. Nhiều người đam mê câu cá và coi đó là một cách thư giản tuyệt vời. Họ chỉ cần ra những cái ao cạnh nhà, thong thả buông cần trúc để xua đi những lo toan thường nhật. Lúc ấy họ chỉ biết theo dõi chiếc dây câu đang dập dềnh trên nước. Giữa một không gian mênh mông sông nước, với chiếc cần câu nhỏ ta hoàn toàn hòa quyện với thiên nhiên, với trời đất mà tĩnh tâm hoặc trò chuyện hoặc ngẫm nghĩ sự đời. Đặt biệt sau những lần giặt cần, không cần biết có câu được cá hay không nhưng đó là niềm vui nho nhỏ khiến ta quên hết mọi phiền toái. Có thời gian, không biết phải vì lo toan nhiều về miếng cơm manh áo mà người ta quên mất cái thú vui đặc sắc này.Gần đây cuộc sống đã khá hơn thì trò giải trí này được khôi phục lại dưới dạng các câu lạc booh. Thời gian đầu các tụ điểm câu cá xuất hiện ở nội thành Hà Nội, sau đó lang rộng ra các vùng ngoại thành như Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn, Từ Liêm, Thanh Trì. Và nay do ảnh hưởng của cơ chế thị trường thú vui này không còn giữ được nếp xưa. Phần lớn hồ thả cá là phải thuê, do vậy các ông bà chủ kinh doanh nghề này phải toan tính chi ly xem nên thả loại cá nào cho rẽ, ăn ít mồi… Ngay dịch vụ cho thuê cần câu họ cũng “chém” với giá cắt cổ 40 ngàn đồng/giờ (cá câu được mang về) và từ 10-20 ngàn đồng/giờ (cá câu được phải mua) khiến không ít người đi câu lại thêm phần căng thẳng. Thậm chí có nơi biến câu lạc bộ thành nơi nhậu nhẹt, hẹn hò ròi cả dịch vụ “câu cá ôm”… Đối tượng đi câu cũng vô cùng đa dạng. Có người đi theo trào lưu là thấy thiên hạ đi, mình cũng đi, nhưng cũng có người đi câu để khoe sự giàu có của mình thông qua những chiếc cần câu được tính bằng ngoại tệ.
Thú câu cá ngày nay quả thật đã xa rời mục đích muốn tĩnh tâm, tìm thú vui giữa bốn bề sông nước nữa. Còn đâu cảnh “thông thả buông cần trút” như xưa. Làm sao để giữ gìn và phát triển được thú vui này theo đúng nghĩa tích cực của nó hiện đang là điều được mọi người quan tâm bởi câu cá không những là môn thể thao hấp dẫn mà không còn là cách thư giản đặt biệt nhiều thú tiêu khiển khác không có được.
Còn đó những nỗi lo
Trong những năm gần đây phim hoạt hình Việt Nam được ví nhưu một nàng công chúa đang ngủ quên trong rừng. Để đánh thức nàng công chúa này, cuối năm 2000, một cuộc họp bàn về tương lai của phim hoạt hình Việt Nam được tổ chức với sự góp mặt của đông đảo các nhà biên kịch và đạo diễn. Tiếp đó hãng phim hoạt hình Việt Nam thông báo sẽ thành lập một trung tâm văn hóa được điện ảnh thiếu nhi với mô hình hoạt động khép kính bao gồm việc chiếu phim kết hợp với tổ chức các chuyến tham quan các di tích, thắng cảnh của đất nước gắn với nội dung cụ thể mà phim đề cập.
Hãng đã khảo cứu thị hiếu của khán giả “nhí” bằng cách chiếu phục vụ miễn phí hàng loạt chương trình hoạt hình Việt Nam trong vòng 35 buổi và phát hành 10 băng hình về phim hoạt hình Việt Nam trong vòng 10 năm. Tất cả đã được đón nhận khá nồng nhiệt. Thế nhưng, từ đó đến nay, ý tưởng vẫn chỉ là ý tưởng. Nàng công chúa hoạt hình Việt Nam vẫn ngủ say.
Vì sao công chúa ngủ? Theo Ông Dặng Vũ Thảo, giám đốc hãng phim hoạt hình Việt Nam thì lý do là vướn kinh phí. Để có được một rạp chiếu mini như vậy cần khoảng 2 tỷ đồng. Nếu không tập trung đầu tư toàn bộ một lúc sẽ dẫn tới việc trang bị được cái này thì cái kia đã lạc hậu. Đó mới chỉ là cái “vỏ”, còn muốn có cái “ruột” tương xứng thì việc đầu tư cho đội ngũ làm phim, viết kịch bản, đạo diễn lẫn các phương tiện kĩ thuật… cũng là điều kiện hết sức quan trọng. Thời gian qua, không chỉ riêng hãng phim hoạt hình Việt Nam mà cả các đài truyền hình cũng rất yếu về mảng đề tài này. Trong khi các bật cha mẹ lo lắng trước sự đam mê của con trẻ với những siêu nhân, trò chơi điện tử ngoại nhập thì những câu chuyện như “từ thức gặp tiên”, “chữ đổng tử tiên dung”…, những tác phẩm mang ý nghĩa giáo dục lại ít được chú ý tới. Nhiều người không khỏi bân khoan rằng: có phải phim hoạt hình của ta đã tụt hậu so với nhu cầu thưởng thức của con trẻ?
Bích Ngọc -Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 41 (206) 2001