Đại Nam nhất thống chí

Kỳ Lân – Ngọc Nữ và chuyện ông vua 6 vợ, trong đó có 4 vợ là người nước ngoài.
Phường Đông Vệ (thuộc thành phố Thanh Hóa) có một trong những thắng tích vào loại lạ lùng, hấp dẫn. Đó là Kỳ Lân. Ngay từ cái tên đã vậy. Tự nhiên khéo léo làm sao đã tạo cho dáng núi hình kỳ lân, một linh vật báo điềm lành cho trời đất, nằm oai nghi trên vùng đất cổ Hạc Thành. Kỳ Lân Sơn còn có cái tên dân dã ngọt ngào hơn: “Mật Sơn” và còn có cái tên đáng yêu nữa: “Núi Ngọc Nữ” như sách “Đại Nam nhất thống chí” đời Nguyễn đã ghi. Như thế phải chăng vì Kỳ Lân Sơn có cảnh đẹp mê hồn như ngọc nữ ? Chẳng thế mà một nhà thơ xưa đi qua đã say sưa diễn tả:
“Tòa núi ai đem đặt giữa đồng
Vẽ hình thiếu nữ đứng mà trông
Phăn phăn da đá pha màu phấn
Phơi phới mùa xuân trút bụi hồng”
Thi nhân cảm phục cái bền tiết trường xuân của nàng:
“Xuân thu ướm hỏi bao nhiêu tá
Trinh tiết bền gan chẳng lấy chồng”
Du ngoạn Kỳ Lân Sơn không thể không biết tới chùa Đại Bi ở chân núi này. Sách “Đại Nam nhất thống chí” cho rằng: chùa do vua Lê Huyền Tông (con Thần Tông) dựng nên vào năm Cảnh Trị 9 (1671) nhưng lại có thuyết cho rằng chùa do chính Lê Thần Tông dựng nên. Phải chăng cha bắt đầu mà con trùng tu ? Hai cha con vua đều là người thế kỷ 17 nên phải chăng chùa ra đời khoảng đó. Chùa Đại Bi nay không còn. Năm 1965 xí nghiệp gỗ đường sắt Thanh Hóa đã thay vào đó. Nhân đấy, có hàng trăm pho tượng với voi, ngựa, chó, nghê đá, bia đá cũng biến đi. Nhưng may mắn thay, nền chùa chưa xóa hết. Hình ảnh một ngôi chùa bề thế, dựng theo hướng Tây Nam trên một vùng đất bằng phẳng, rộng lớn, với một quả chuông nặng hơn 2 tạ trên tầng 3 gác Tam Quan lộng lẫy, tiếng vang cả đất Hạc thành đều nghe vẫn sống trong ký ức các bậc cao tuổi ở Mật Sơn. Giếng Tiên nổi tiếng qua thời gian lâu không bằng xưa nhưng vẫn còn đấy dưới bóng xà cừ xanh biếc của chùa. Dân gian ở đây từng kể:
“Long lanh giếng nước tự nhiên
Vua Thần cùng với Hậu tiên sánh vầy”
Lê Thần Tông đã từng cùng một trong những Hậu phi đến tắm ở giếng Tiên, thưởng thức vị chè pha với nước múc từ giếng lên mà cảm thấy thỏa mãn, cùng người đẹp thả hồn về cõi Niết Bàn cực lạc. Giếng Tiên là một công trình điêu khắc đá đặc sắc ở thế kỷ 17. Đó là kỷ niệm khó quên của quan hệ kết chạ bền chặt giữa dân làng Nhuệ thôn (làng Nhồi) nơi sản xuất và chạm khắc đá nổi tiếng với làng Mật. Giếng có thành dày 0,15m; sâu 3,70m thôi nhưng được xây bằng đá phiến đã ghè đẽo công phu theo độ cong của giếng với đường kính 1,55m; có tới 12 phiến đá khép kín. Đáy giếng được lát bằng một lớp phiến mà mỗi tảng đá đều được chạm nổi hình tôm, cua, cá. Nước trong suốt tận đáy, nhìn lung linh như một thủy cung của các thủy tộc tôm, cua, cá.
Cùng với giếng Tiên, di sản quý báu nhất còn sót lại của chùa là tượng vua Lê Thần Tông và sáu bà Hậu phi. Các tượng này may mà còn, nay tạm đặt nhờ ở Thái miếu nhà Hậu Lê ở thôn Kiều cách đó không xa. Các tượng Hậu Phi, không đặt trên bệ hoa sen, đầu đội vương miện với y phục mỗi người một vẻ, mang bản sắc dân tộc, khác với y phục của giới Phật dù là đang ngồi ở thế tọa thiền. Đó là cơ sở để người sau dễ đoán nhân Hậu phi là người nước nào. Nó phù hợp với thời Lê Thần Tông là thời Đông – Tây giao lưu, thời “Thứ nhất kinh kỳ thứ nhì phố Hiến”, khách nước ngoài dễ đến đó hơn, làm điều kiện cho việc diễn ra hiện tượng không phổ biến trong lịch sử Việt Nam: Vua lấy vợ người nước ngoài. Le Breton – người Pháp trong sách “Những đình chùa và những nơi lịch sử trong tỉnh” có lý khi cho rằng: sáu tượng Hậu Phi ở Mật Sơn bao gồm: “Hoàng Hậu Việt (Kinh), Hoàng Phi Hà Lan, Hoàng Phi Việt (Mường), Hoàng Phi Xiêm, Hoàng Phi Trung Hoa, Hoàng Phi Ba Thục (Trung Hoa). Nói tới Hoàng Hậu, chính cung của thời vua Lê Thần Tông thì chỉ có bà Trịnh Thị Ngọc Trúc được phong thôi. Bà Ngọc Trúc là con gái chúa Trịnh Tráng đã có chồng con từ trước. Chồng bà là chú vua. Sau khi chồng bà bị tội không còn, chúa Trịnh Tráng mới gả cho Lê Thần Tông. Với uy quyền quá lớn của chúa, năm 1630 vua Thần Tông phải phong bà làm Hoàng Hậu. Bà Ngọc Trúc là người đẹp, rất giỏi văn chương và Phật lý, những sở trường mà Thần Tông rất thích. Chính bà là tác giả cuốn tự điển Nôm “Chỉ Nam Ngọc âm giải nghĩa” nổi tiếng mà đến thời nay chúng ta còn có thể nghiên cứu. Le Breton có lý khi xác định một Hoàng Phi là người Mường. Theo một số tư liệu Hán Nôm (như văn khắc đá hay văn khắc gỗ) và truyền thuyết hiện còn ở Nam Giang thì: Bà Ngọc Hậu cùng mẹ và chị ruột sống nhân hậu nên được thầy địa lý giúp đỡ, đặt mả bố đẻ vào “phúc địa”, tiên đoán “Nhất giá công hầu, nhất giá vương”. Về sau bà chị lấy công hầu, còn bà Ngọc Hậu năm 19 tuổi, duyên trời dun dủi ra kinh đô gặp đúng lúc vua Thần Tông nằm mộng thấy người đẹp có duyên từ trước, vẽ tranh, sai quan đi tìm, gặp bà giống hệt người trong mộng liền lấy làm vợ. Thần Tông mất một thời gian, bà cũng đi tu, gắn bó với Phật nên cũng đáng thờ ở chùa Từ Bi. Còn bốn người vợ ngoại quốc: Truyền thuyết dân gian nhắc tới một chiếc tàu nước ngoài bị bão dạt vào bờ biển Việt Nam được cưu mang, giúp đỡ. Để trả ơn, chủ tàu dâng 4 nàng cho chúa Trịnh. Thấy vua Thần Tông sau khi mất người con trưởng là Lê Duy Hựu, đâm ra buồn bã, để an ủi, chúa Trịnh Tráng hiến 4 nàng cho vua. Thần Tông được của lạ không mấy có ở Việt Nam cũng khuây khỏa dần. Có lần du ngoạn ở Mật Sơn, Thần Tông cả 6 vợ trong đó có 4 phi người nước ngoài.
Đinh Công Vĩ – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.