Để du khách nước ngoài đến với nghệ thuật truyền thống

Ngoài việc xem biểu diễn múa rối nước ra thì hầu hết khách du lịch nước ngoài đến Việt Nam ít có dịp tiếp xúc với các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống khác vốn rất phong phú của dân tộc như chèo, tuồng, ca trù, quan họ… Phải chăng họ không thể cảm nhận được nghệ thuật biểu diễn truyền thống của ta hay bởi chính các loại hình nghệ thuật này chưa tìm đường đến với họ?
Để hiểu – chuyện quá khó!
Hầu hết du khách quốc tế đến Việt Nam khi xem biểu diễn nghệ thuật kịch hát dân gian đều chỉ cảm nhận được cái gì đó thật “ngồ ngộ, vui vui” của văn hóa Việt Nam. Tiếng cắc cắc tum tum lạ lẫm, tiếng đàn tiếng phách ngọt ngào và những làn điệu khoan nhặt của ca trù hay hình bóng cô gái quan họ trong trang phục mớ bảy mớ ba lòe loẹt luôn e lệ với chiếc nón quai thao… cũng chỉ gây nên đôi chút hứng khởi cùng sự tò mò, khó hiểu. Ngay đến người Việt Nam cũng cần phải biết các tích trò, tích truyện, các sự kiện lịch sử, các nét văn hóa đặc trưng thì mới hiểu được cái hay, cái đẹp của nghệ thuật biểu diễn truyền thống rồi từ đó mới có thể yêu thích. Trong khi đó, ở các buổi trình diễn kịch hát dân gian hầu như không có một lời dẫn, một câu giới thiệu nào, chỉ có tiếng đàn, tiếng phách tấu lên và tiếng cô đào ả ơi khoan nhặt. Khi khách đã no con mắt, đủ cái nhìn thì họ quay đi và chẳng còn vương vấn nữa bởi họ không thể hiểu được nội dung ca từ, mà ca từ chính là yếu tố chủ đạo tạo nên tinh túy của vở diễn.
Nhiều người tâm huyết vẫn đi tìm cho nghệ thuật kịch hát dân tộc một đời sống đích thực – “một đời sống đầy sinh lực rạng rỡ, chứ không phải là sự cầm cự cho qua ngày đoạn tháng”. Trong khi đó một lượng đáng kể du khách nước ngoài rất nặng lòng với nghệ thuật truyền thống của ta lại phải tự mày mò tìm hiểu, tự cảm thụ. Chính vì sự thụ động mà kịch hát truyền thống chỉ mới dừng lại ở chỗ gợi trí tò mò đối với du khách nước ngoài, có thể khiến họ thích nhưng chưa làm cho họ yêu.
Công tác “marketing nghệ thuật” chính là cách giúp người nước ngoài vượt qua những trở ngại về ngôn ngữ để họ có thể tiếp xúc và cảm thụ được nghệ thuật kịch hát dân gian. Điều trước tiên là cần phải giúp cho họ có một cái nhìn chung về nguồn gốc, xuất xứ của nghệ thuật sân khấu truyền thống Việt Nam. Mặt khác, việc giải thích ý nghĩa, các điệu bộ tượng trưng của mỗi loại hình nghệ thuật, việc cung cấp những kiến thức cơ bản về tính ngưỡng, chính trị, môi trường xã hội, môi trường tự nhiên… mà ở đó một loại hình nghệ thuật được hình thành cũng đặc biệt quan trọng. Những thông tin này cần được dịch ra nhiều thứ tiếng và in thành các tờ rơi, tờ gấp để phát cho khán giả trong buổi biểu diễn. Ngoài ra, trong một buổi biểu diễn cũng rất cần có người giới thiệu nội dung các vở diễn, tích trò, tích truyện cho khán giả bằng nhiều thứ tiếng. Có như vậy khách nước ngoài mới có thể hiểu và thưởng thức một cách đầy đủ một tác phẩm kịch hát.
Chính nhờ các biện pháp “marketing” như vừa nêu trên mà một doanh nhân người Pháp – ông Gérard Gastel đã thành công trong việc “kinh doanh nghệ thuật” và quán Café des Arts của ông với những đêm ca trù, chèo… đã trở thành điểm lui tới của rất đông khách nước ngoài ở Việt Nam.
Nên chăng các nhà hát, các câu lạc bộ chú trọng đến công tác “marketing” để thu hút ngày càng nhiều khán giả đến với mình.
Khó khăn đầu tiên…
Khi còn đang đi học, để củng cố thêm kiến thức và cũng là muốn có dịp trao đổi thêm khả năng ngoại ngữ của mình, tôi xin làm hướng dẫn viên part-time cho một công ty du lịch. Sau vài tour cho khách nội địa, tôi vững tin hơn rất nhiều và thấy có thể theo tour một mình. Lần đó tôi nhận được lệnh đi theo một đoàn khách người Anh với tour 3 ngày, trong đó ngày đầu tiên đi chùa Hương. Tự tin vào kiến thức về chùa Hương và khả năng ngoại ngữ của mình, tôi hào hứng lên đường. Cả đoàn toàn là những người còn trẻ nên chúng tôi dễ dàng hòa nhập qua câu chuyện về các địa danh du lịch của Việt Nam cũng như một số quan niệm về đời sống. Chùa Hương vừa qua trận mưa nên đường xá khó đi, nhưng không khí ở đây thật tuyệt vời. Mọi suy nghĩ của tôi về chuyến đi thật dễ chịu. Tuy nhiên, tôi đã cùng đoàn lên đến động Hương Tích một cách khó khăn.
Về đến Hà Nội ngay trong đêm hôm đó, tôi nhận được điện thoại của Công ty bảo ngày mai không đi với đoàn đó nữa. Theo bộ phận Điều hành thì khách nói tôi yếu, đi quá chậm, yêu cầu đổi người khác. Tôi bị sốc quá không nói được lời nào. Sau lần đó, tôi nhận ra một điều làm hướng dẫn không chỉ cần có kiến thức, vốn ngoại ngữ để làm tốt công việc.
Sau này, khi chính thức làm nghề, tôi đã hướng dẫn rất nhiều đoàn khách đi tour tham quan nhiều nơi nhưng tôi không bao giờ quên được kỷ niệm lần đầu tiên đi tour với đoàn khách người Anh.
Đỗ Doãn Đạt – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 46(211)2001