Đến với hang động kim bảng

Là huyện bán sơn địa có 1/3 diện tích đồi núi, Kim Bảng (Hà Nam) chứa đựng tiềm năng du lịch sinh thái độc đáo với những dãy núi đá vôi tạo nên những hang động kỳ thú, những đền, chùa cổ kính, rêu phong. Từ thị xã Phủ Lý, qua cầu Hồng Phú, dọc theo quốc lộ 21 về phía tây chừng 8km, bạn sẽ gặp Ngũ Động Sơn (5 động xuyên sâu trong lòng núi Cấm). Núi Cấm còn gọi là núi Cuốn. Núi được gắn với truyền thuyết là trong lúc Lý Thường kiệt đem quân đi dẹp giặc phương Bắc, khi đi qua nơi đây, bất ngờ gió cuốn lá cờ bay bay lên đỉnh núi. Ông gọi đó là núi Cuốn Sơn. Thắng giặc trở về, nhớ lại chuyện xưa, ông cho dừng quân, hạ trại, mở tiệc ăn mừng rồi dạy dân làng ươm tơ, dệt lụa. Ở núi Cấm còn lưu một truyền thuyết nữa là trên núi có loài cỏ Thi, nếu người nào may mắn hái được sẽ trở thành thi sĩ. Không ít tạo nhân mặc khách đã đi tìm cỏ Thi ở núi này.
Bên cạnh Ngũ Động Sơn là đền thờ Lý Thường Kiệt còn gọi là đền Trúc. Quanh đền trúc mọc xanh tốt, trải qua hàng năm cây trúc vẫn sống cùng thời gian. Thắng cảnh Ngũ Động Sơn và đền Trúc đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hóa, lễ hội được tổ chức vào ngày 6/2 âm lịch hàng năm. Đến thăm đền Trúc vào những ngày ấy, bạn sẽ được thưởng thức các làn điệu hát dậm, xem bơi chải, chọi gà, thi đấu cờ tướng và võ vật.
Sau khi thăm Ngũ Động Sơn và đền Trúc, bạn có thể ngược dòng sông Đáy chừng 800m để cập bến chùa Bà Đanh, núi Ngọc thuộc xã Ngọc Sơn. Trong chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ có giá trị.
Núi Ngọc soi bóng bên dòng sông Đáy ngay trong khuôn viên của chùa. Trên núi có cây si cổ thụ với những chùm rễ len lỏi gần như ôm trọn cả quả núi. Đi thêm 2km nữa bằng đường bộ, hoặc đi thuyền trên sông chừng 1.000m để đến thị trấn Quế., Đây là trung tâm huyện lỵ Kim Bảng, theo quy hoạch sẽ là trung tâm toàn tuyến du lịch Kim Bảng.
Từ Ngũ Động Sơn theo đường ô-tô chừng 2km về phía tây nam sẽ đến một thung nằm giữa các núi đá vôi. Tại thung này có lạch nước chảy từ trong núi ra tạo thành động Thủy thuộc xã Liên Sơn. Đây là một hang rộng, trần hang rủ xuống nhiều nhũ đá với những hình thù khác nhau. Muốn vào thăm hang động, bạn phải đi thuyền mới thấy hết vẻ đẹp của tạo hóa. Cửa hang là một thung kín hẹp, diện tích khoảng 400 m2, đấy chính là ao Rong. Xung quanh ao là sườn núi đá, có bậc giúp bạn leo lên một cách dễ dàng. Trên bờ ao Rong có một mô đá bằng phẳng và còn nguyên một cối đá khoét sâu vào mặt đá. Đây là nơi nghĩa quân Lê Chân và sau đó là nghĩa quân Nguyễn Hữu Cầu cố thủ để chiến đấu.
Cũng từ Ngũ Động Sơn, theo đường ô tô về phía Bắc khoảng 6km sẽ gặp hang Dơi. Ngoài cửa chính, hang còn có 6 cửa khác. Ngay phía trước cửa hang là chùa Tiên Phước. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quân y viện 5 (Quân khu 3) đã sơ tán về đây.
Từ đây, bạn có thể đi về phía Đục Khê – chùa Hương và bắt gặp hồ Lục Nhạc ở xã Ba Sao. Gọi là hồ Lục Nhạc vì ở giữa hồ có 6 ngọn núi mọc lên sừng sững. Gần đó có một thung rộng tới 3km2 là nơi trú ngụ của hàng ngàn, hàng vạn cò, vạc, sâm cầm…
Tục lệ cụng ly
Trước kia ở Hy Lạp, lúc sắp đến bữa ăn, người ta đặt lên bàn một bình rượu vang để mọi người cùng uống. Bữa ăn bắt đầu, khách chủ đứng dậy, bưng bình lên, nhúng cả hai môi vào rượu rồi chuyển sang người ngồi cạnh. Người này đỡ lấy bình rượu rồi cũng nhúng môi vào bình và cứ thế lần lượt truyền tiếp cho đến người cuối cùng. Dĩ nhiên, những người sau cũng lặp lại động tác “mời” kỳ lạ ấy bởi họ cho đó là dấu hiệu “bạn bè bền vững”.
Đến thế kỷ 13, người Đức còn giữ tục lệ ấy sau mới bỏ dần vì sợ lây bệnh cho nhau. Thay vào “hủ tục” đó, người ta cụng ly. Các nước phương Tây cũng bắt chước cụng ly mời nhau và gọi đó là “trinquer”, tiếng Đức là trinken đều có nghĩa là chạm cốc hay cụng ly.
Tục lệ cụng ly dần dần lan truyền sang châu Á. Đến nay, khắp thế giới, mỗi lần người ta gặp nhau, vào tiệm uống rượu uống bia hay lúc cùng dự tiệc chiêu đãi, mọi người đều nâng cốc chạm lần lượt với tất cả thực khách rồi mới ngồi xuống cùng ăn.
Nguyễn Quang – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(181)2001