Gâu nuôi có sinh sản

Trên thực tế, nhu cầu sử dụng mật gấu là rất lớn. Câu hỏi được gợi lên là có thể nuôi gấu sinh sản để khia thấc như một thương phẩm được không. (Được biết trên thế giới, nhiều nước đã thành công trong việc nuôi gấu sinh sản như: Trung Quốc, Miến Điện,…) Ngoài những nơi như Lai Châu, Sơn La, Nghệ An…, được coi là những khu vực có nhiều gấu nuôi nhất thì ở Hà Nội và lân cận, số lượng nuôi gấu đang gia tăng đáng kể. Hà Nội có tới gần 1.000 con, Hà Tây cũng xấp xỉ 300 con…
Người ta thường ngộ nhận rằng gấu nuôi nhốt có thể sinh sản được. Thực ra, cho đến nay các công trình nghiên cứu của một số nhà khoa học đều khẳng định: Gấu Việt Nam nuôi nhốt (cho đến giờ) chưa sinh sản được. Ông Nguyễn Kim Linh, Giám đốc Trung tâm bò và đồng cỏ ba vì (Viện chăn nuôi quốc gia) cho biết: Năm 1996, Trung tâm nghiên cứu và nuôi thành công gấu sinh sản trong điều kiện bán tự nhiên. Một con gấu Myanmar đẻ 3 lứa được 5 con. Vấn đề ở chỗ đó là gấu Myanmar còn gấu Việt Nam có đẻ được hay không thì phải chờ. Hơn nữa, nuôi gấu đẻ rất khó bởi sự khắt khe về khẩu phần dinh dưỡng và điều kiện. Trong khi đó, các gia đình nuôi gấu lấy mật nhốt mỗi con một chuồng, làm sao sinh sản được.
Ông Linh khẳng định việc một số phương tiện thông tin đại chúng đưa tin có trường hợp nuôi gấu tại gia đình sinh sản thành công là “không đúng sự thật”. Con gấu ấy khi bị bắt từ rừng về đã có chửa nên nuôi một thời gian thì sinh sản.
Điều nàu giải thích vì sao một con gấu giá cả trăm triệu mà vẫn bị xẻ thịt đem bán. Các quán rượu T.H ở Hoàng Hoa Thám, quán cây Si – Yết Kiêu (Hà Nội)… đều có rượu tay gấu. Một người đàn bà tên Nga ở Thanh Xuân (Hà Nội) cho chúng tôi biết: Muốn mua tay gấu lúc nào ở chỗ chị ta cũng sẵn. Đây chính là những con gấu xấu số sau 2-3 năm không khai thác được mật nữa.
Lời kết
Gấu là loài thú nằm trong danh mục cấm khai thác và sử dụng (Nghị định 18/HĐBT ngày 17/1/1992) và cấm buôn bán quốc tế (phụ lục 1 công ước CITES). Nếu không có những biện pháp quản lý mạnh tay của các cơ quan hữu trách thì nguy cơ về sự tuyệt chủng loài gấu ở Việt Nam không phải là xa vời. Tuy nhiên chăm sóc sức khỏe cộng đồng cũng là một công việc hết sức quan trọng. Như đã nói ở trên, nhiều nước đã thành công khi nuôi gấu sinh sản. Vậy với gấu Việt Nam, tại sao không? Câu hỏi đó đang chờ các nhà chuyên môn giải đáp.
Nêu ưu tiên tay hay ta?
Ngày nay, nhiều công ty du lịch ghép đoàn với nhau để giảm chi phí. Và thế là Tây Ta có dịp gặp gỡ nhau đi du lịch cùng nhau hai hoặc ba ngày. u đó cũng là điều đáng mừng, đặc biệt là cho lớp trẻ vì có điều kiện giao tiếp hiểu biết…Đối với những hướng dẫn viên chúng tôi thì ai cũng như nhau, vì đều là khách, đều bỏ tiền như nhau có chi mà phân biệt. Chuyện người đến trước lên xe, lên tàu trước, khi phục vụ ăn có người trước người sau là chuyện đương nhiên, có gì phải bàn. Vậy mà nhiều khách Việt không hiểu, lại cho rằng nhất bên trọng nhất bên khinh, coi Tây hơn Ta. Lên xe sau không có ghế ngồi đằng trước cũng phàn nàn. Đến nhà hàng nhân viên mang đồ ăn cho khách Tây trước lại cho rằng mình bị coi là thứ yếu. Có khách lại đập bàn đập ghế quát hướng dẫn viên với những lời lẽ vô văn hóa “mày có biết tao là ai không?”, hay “mày coi chúng nó (khách nước ngoài) hơn bọn tao”…Nhiều người đi du lịch lại nghĩ rằng mình là ông vua, cứ bỏ tiền có quyền quát tháo. Họ quên mất rằng mỗi người đều có lòng tự trọng, những người làm trong ngành du lịch là những người phục vụ chứ không phải kẻ ăn người ở nhà họ.
Chuyện không thông cảm với hướng dẫn viên hay nhân viên phục vụ cũng có thể bỏ qua nhưng thái độ cố chấp, phân biệt của nhiều người thì không thể không bàn. Chúng ta là người Việt Nam, chúng ta không nói là cao thượng, nhưng phải chứng tỏ rằng chúng ta là chủ nhân của đất nước và nền văn hóa Việt Nam. Phải tỏ lòng mến khách thì dù có chịu thiệt thòi hơn một chút (đấy là giả sử) cũng có sao đâu! Thật đáng buồn là có tới 20% số khách du lịch ghép đoàn hiểu được điều này.
Hầu hết khách du lịch nước ngoài đến thăm Việt Nam bởi vì họ nghe nói rằng Việt Nam là một đất nước đẹp, có nền văn hóa độc đáo, con người Việt Nam thân thiệt, mến khách. Họ đến nhiều lắm là 1-2 tháng rồi đi, ít có người trở lại và thử nghĩ họ có mong muốn trở lại không khi họ biết có những người Việt Nam giữ trong mình suy nghĩ thiển cẩn như vậy.
Chúng ta vẫn nói muốn làm bạn với tất cả các nước. Muốn thế, xin hãy thân thiệt với những khách Tây bình thường kia đi đã.
Đỗ Đình Dũng -Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 41 (206) 2001