Hội xuân và văn hóa làng xã Việt Nam

Văn hóa Việt Nam căn bản vẫn là văn hóa làng xã . Dấu ấn làng quê ấy in đậm ở hội làng. Hội làng là một sinh hoạt văn hóa, xã hội, tôn giáo, nghệ thuật đặc sắc, tổng hợp và định kỳ của cộng đồng người làng. Xuân thu nhị kỳ, hai mùa hội làng, người làng như có dịp ngơi nghỉ, xả hơi, để ăn và chơi để ngưỡng vọng. Nhưng vui nhất vẫn là hội xuân, bởi ngày xuân là ngày của lễ hội, của hội làng. “Bức vẽ chơi xuân” (Du xuân đồ) của tranh làng Hồ có mấy câu thơ: “Thái Bình mở hội xuân. Nô nức quyến xa gần. Nhạc dân ca trong điện. Trò thưởng vật ngoài sân”. Từ tháng giêng, hội xuân hội làng đua nhau nở khắp làng quê. Từng đoàn người quen chen vai, thích cánh dự lễ hội chùa, hội đền, hội đình, hội miếu… Không khí màn hương khói tín ngưỡng tốn giáo trong hệ thống lễ, ở đó thể hiện mối giao cảm giữa con người với thế giới siêu nhiên, tự nhiên như thần linh, ma quỷ, mưa gió, sống nước, các vị anh hùng dân tộc…, hội xuân làng xưa có văn nghệ, có võ đồng thời có diễn (diễn tuồng, diễn chèo, diễn múa, diễn ca), có thao (vật, võ, đua thuyền, hất phết…). Thông qua các hoạt động trong phần hội của hội làng, con người giao cảm hơn với con người. Có lẽ không ở đâu, tinh thần cộng đồng như một đặc trưng văn hoa của người Việt lại có dịp được thể hiện sắc nét như ở hội làng. Người đến hội làng, say mê với những truyền thuyết nghìn đời về những nhiên thần, nhân thần trong mối giao cảm giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên. Những thần tích về các vị thành hoàng, những câu chuyện về các ông tổ nghề truyền thống được người dự hội chiêm nghiệm. Có người thích thú với cảnh trí hội lễ long trọng, trang nghiêm với cờ đại, cờ nheo, cờ thứ phương ngũ hành, với những biểu tượng long, lân, quy, phượng. Con người được tắm mình trong không khí linh thiêng, cảm nhận trong từng huyết mạch của mình nguồn sống từ xa xưa truyền lại. Còn những ai mơ mộng lại có dịp thả hồn trước bức tranh thiên nhiên kỳ thú, đầy chất thơ của vùng trẩy hội. Mùa xuân làm cho con người và thiên nhiên dường như mới lạ, thanh tân, thanh xuân hơn. Lễ hội mùa xuân chính là dịp để con người, làng xóm tự biểu hiện mình, tự thỏa mãn nhu cầu văn hóa vật chất và tâm linh của mình. Qua lễ hội, con người bộc lộ tình cảm tâm tình với nhau. Ca dao có câu: “Có xôi có oản mới nên phần. Có nam có nữ mới nên xuân”. Bên cạnh đó, hội xuân còn là phương tiện chuyển tải những giá trị văn hóa truyền thống từ thế hệ này qua thế hệ khác. Những di sản văn hó dân tộc được bảo tồn một cách có hiệu quả trong hội xuân: hát chèo, hát hội, những trò chơi dân gian, những làn điệu dân ca… Hội làng không thể thiếu những trò vui và lễ hội làng nào cũng có trò đánh vật. Tranh dân gian làng Hồ tả cảnh vật tưng bừng với bốn cặp đấu vật dự thi và hai chuỗi tiền giải, tràng pháo dài, gợi sức xuân lắm. Còn đây là Hội vật của Hoàng Cầm, đến đoạn thư hùng quyết liệt:
Thùng thùng trống chuyển nhịp tơi bời
Nhiễu đỏ bên trái lên nhiễu xanh bên phải xuống
Nhòe bụi cuốn
Cột đồng dựng
Núi đã mọc
Ngón chân cày đất ba gang
Vạt cỏ đuôi gà bật rễ
Đất võ đài nho lên lõ xuống
Chòng chành vạn chiếc mắt thuyền
Đến với hội xuân, người già thì tế lễ, người trẻ tham gia các trò chơi xuân: chọi gà, đánh vật, bơi chải… Tất cả tạo nên một không khí sinh hoạt hiếm có, một quá trình trưng diễn phong tục, tập quán địa phương, một quá trình trưng diễn phong tục, tập quán địa phương một quá trình hòa nhật, công cảm giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên.
Trần Xuân Toàn -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (6(110))1999.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai.