Du lịch Hà Tây…

Hà Tây là tỉnh có vị trí liền kề phía Tây Nam Hà Nội, được nối liền với Thủ đô qua các quốc lộ 1, quốc lộ 6, quốc lộ 32 và đường cao tốc Láng – Hòa Lạc. Thiên nhiên và lịch sử đã trao cho Hà Tây nguồn tài nguyên du lịch quý giá để có thể xây dựng các sản phẩm du lịch vừa độc đáo, vừa đa dạng và hấp dẫn.
Từ 1996 đến nay, ngành du lịch Hà Tây đã tập trung phối hợp, tham mưu, chỉ đạo xây dựng được 32 quy hoạch, dự án phát triển du lịch, trong đó có 20 dự án, quy hoạch đã được phê duyệt và triển khai hoạt động, có một số dự án đạt hiệu quả bước đầu như: Dự án nâng cấp mở rộng sản phẩm du lịch tại Ao Vua, Khoang Xanh, sân Golf Đồng Mô, dự án cải tạo khách sạn Sông Nhuệ, dự án xây dựng khách sạn ASEAN (Hòa Lạc)… Toàn ngành đã có 31 khách sạn, nhà nghỉ với 500 buồng phòng, 950 giường, 2050 chỗ ngồi phục vụ ăn uống, 2000 chỗ phục vụ hội nghị, hội thảo. Năm 1994, Hà Tây mới chỉ có 3 doanh nghiệp hoạt động du lịch, đến nay đã có trên 30 doanh nghiệp hoạt động du lịch với trên 1000 lao động trong đó 70 phần trăm lao động được đào tạo cơ bản về du lịch từ trình độ công nhân kỹ thuật, trung cấp đến đại học du lịch, 48 phần trăm có trình độ ngoại ngữ từ bằng A trở lên. Năm 1996 ngành du lịch Hà Tây đã đón được 76 vạn lượt khách, đến năm 2000 là trên 8 vạn lượt, tăng gấp 3 lần so với năm 1996.
Trong thời gian tới, nhiệm vụ của ngành du lịch Hà Tây là tập trung thực hiện tốt những mục tiêu nhiệm vụ phát triển du lịch đã ghi trong Nghị quyết đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ 9. Với các làng nghề, các lễ hội truyền thống, các di tích lịch sử văn hóa, cách mạng, kiến trúc, nghệ thuật, các sản phẩm du lịch làng nghề, phát triển theo định hướng đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm nhằm đáp ứng yêu cầu của du khách, tăng cường sức cạnh tranh của sản phẩm du lịch tăng cường sức cạnh tranh của sản phẩm du lịch Hà Tây trên thị trường. Dựa trên các đặc trưng văn hóa, các thế mạnh về sinh thái cảnh quan và các yêu cầu đòi hỏi của thị trường tạo ra các sản phẩm du lịch mang đặc trưng văn hóa Hà Tây như xây dựng các tour, tuyến du lịch, các sản phẩm lưu niệm… gắn với các di tích lịch sử, lễ hội truyền thống, làng nghề, làng Việt cổ. Việc đa dạng hóa sẽ tạo ra các sản phẩm du lịch riêng có góp phần kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, khắc phục đặc tính thời vụ như hiện nay và hướng đến mục tiêu phát triển bền vững. Đầu tư nâng cấp cải tạo cơ sở hạ tầng, hệ thống cơ sở lưu trú và các dịch vụ vui chơi giải trí nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng và ngày càng cao của thị trường. Nhằm đạt mục tiêu đến năm 2005 du lịch dịch vụ chiếm 30 phần trăm GDP của tỉnh, trong đó khách quốc tế là 11,5 vạn lượt, do vậy cần có những giải pháp phát triển đồng bộ và được quán triệt áp dụng trên phạm vi toàn tỉnh.
Để tạo ra một sức bật mới, du lịch Hà Tây ngoài việc xây dựng 3 trung tâm du lịch trọng điểm theo quy hoạch tổng thể là Hương Sơn – Quan Sơn, Ba Vì – Sơn Tây, Hà Đông và phụ cận, sẽ xây dựng thêm một số khu du lịch trọng điểm tại hồ Suối Hai, hồ Quan Sơn, hồ Tân Xã và một số trang trại vườn sinh thái dọc tuyến sông Hồng, sông Đáy, sông Tích, sông Nhuệ… Tại các khu du lịch trọng điểm này sẽ áp dụng các cơ chế chính sách mở theo quy định của Nhà nước với những vận dụng phù hợp với thực tế của địa phương, đặc biệt là tranh thủ nguồn vốn quốc gia để tập trung xây dựng khu du lịch trọng điểm Suối Hai – Ba Vì – Sơn Tây.
Chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, dịch vụ. Triển khai có hiệu quả đề án phát triển du lịch tỉnh Hà Tây đến 2005 vừa được Thường vụ Tỉnh ủy thông qua. Tăng cường nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý và lao động toàn ngành đặc biệt là trình độ chuyên môn ngoại ngữ, đạo đức nghề nghiệp. Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về kỹ thuật, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý và đội ngũ lao động nhằm nâng cao kiến thức của đội ngũ lao động đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của du lịch góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của địa phương và sự phát triển của du lịch Việt Nam.
Kỷ niệm 5 năm thành lập khoa du lịch và khách sạn
Khoa Du lịch và Khách sạn Trường Đại học Kinh tế Quốc dân vừa tổ chức lễ kỷ niệm 12 năm thành lập chuyên ngành du lịch, 5 năm thành lập Khoa Du lịch và Khách sạn. Mặc dù mới thành lập, những năm qua, Khoa Du lịch và Khách sạn đã đào tạo được 15 thạc sĩ và tiến sĩ, 1500 cử nhân. Hàng ngàn cán bộ nhân viên trong ngành Du lịch cũng đã được đào tạo lại tại đây. Khoa đã nhiều lần được Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch tặng bằng khen. Trong dịp này Khoa đã vinh dự được nhận bằng khen về thành tích học tập và nghiên cứu khoa học 1999 – 2000 của Bộ Giáo dục – Đào tạo và bằng khen đã có thành tích tham gia liên hoan du lịch 2001 do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội trao tặng.
Lại Hồng Khánh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 46(211)2001

Sống chung cùng những dòng sông “đen”

Hà Nội có 4 con sông làm nhiệm vụ tiêu thoát nước thải là Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét, Kim Ngưu. Nhưng, hiện tại, cả 4 sông đều bị ô nhiễm nghiêm trọng mà người hứng chịu không ai khác là các dân cư trong vùng.
Những dòng sông “đen”
Theo Sở khoa học – công nghệ và môi trường Hà Nội thì tổng lượng nước thải sinh hoạt của người dân nội thành la 250.000 m3/ ngày và khoảng 85.000 – 90.000 m3/ ngày nước thải sản xuất, đều thoát qua 4 con sông nói trên.
Phần lớn nước thải sinh hoạt chỉ qua xử lí sơ bộ tại bể tự hoại, sau đó xả vào các tuyến cống chung hoặc kênh, mương, ao, hồ. Tuy nhiên, các bể tự hoại làm việc kém hiệu quả do xây dựng không đúng quy cách và xử lý không triệt để, nên hàm lượng các chất bẩn trong nước thải rất cao gây ảnh hưởng đến thành phần và chất lượng nước ở các sông hồ.
Hệ thống thoát nước ở Hà Nội đều đổ dồn về huyện Thanh Trì mà lượng nước thải được xử lý chỉ đạt có 5%, còn đại đa số hòa trong các dòng sông “đen” và là nguyên nhân gây ô nhiễm các nguồn nước mặt. Những dòng sông này chỉ giảm bớt độ ô nhiễm vào mùa mưa, còn khi nắng nóng, mùi hôi thối bốc lên gây ảnh hưởng nghiêm trọng cho đời sống nhân dân. Nhiều xã huyện của huyện Thanh Trì như Vĩnh Quỳnh, Tam Hiệp thường bị bệnh ngoài da, đau mắt hột hay bệnh tiêu hóa…Nguyên nhân chính là do không có nước sạch sử dụng vì đa số giếng ở đây đều khoan ở tầng nông, mà tầng này đã bị ô nhiễm trầm trọng trong khi độ an toàn phải ở độ sâu hơn 40 mét. Đặc biệt, vừa qua, 69 người người ở xã Tam Hiệp bị nhiễm độc do nguồn nước bị nhiễm khuẩn coli (có trong phân tươi). Đây là vụ dịch đầu tiên do ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt. Nhưng ai dám chắc sẽ không có những vụ tương tự xảy ra khi môi trường nước ở xã này đã trong tình trạng báo động.
Cha chung không ai khóc?
Nhiều năm nay, người dân ở hạ lưu của 4 con sông luôn phải sống trong sự ô nhiễm nguồn nước. Đa số những mẫu nước ở khu vực hạ lưu của sông Tô Lịch đều vượt tiêu chuẩn cho phép 2 -5 lần, thậm chí hàng chục lần. Hiện nay, các con sông, mương tiêu thoát nước lại bị người dân đổ rác thải, nước thải sinh hoạt ra, hoặc bị lấn chiếm, khiến những con sông, đoạn mương đã hẹp lại càng hẹp hơn. Để rồi, những người dân này lại hứng chịu hậu quả do chính họ gây ra. Đợt mưa lớn vừa qua đã làm nước ngập hầu hết các gia đình ở hai bên mương Vĩnh Tuy. Nước thải lẫn phân tràn vào trong nhà, nước rút hàng tuần vẫn có mùi hôi thối. Ông Trần Anh Tuấn – cán bộ đô thị phường Vĩnh Tuy cho biết: ” tình trạng lấn chiếm mương đang diễn ra mà chẳng có biện pháp nào xử lý. Vì vậy, đơn vị thoát nước làm việc rất khó khăn, các phương tiện cơ giới không vào được. Nhiều chỗ dân còn hợp tác, đe dọa người làm nhiệm vụ. Mặt khác, giữa công ty thoát nước và môi trường đô thị chưa sự phối hợp tốt, nên không ai chịu trách nhiệm chính khi dân vi phạm. Vì thế, đang xảy ra tình trạng cha chung không ai khóc, các mương đã ô nhiễm lại càng ô nhiễm hơn.”
Không chỉ nơi này mà hầu như tại các kênh mương tiêu thoát nước ở Hà Nội, tình trạng lấn chiếm, đổ rác thải khá phổ biến, dù nhiều nơi đã có những điểm thu gom rác. Người dân vẫn phải chịu đựng tình trạng ô nhiễm môi trường.
Hiện nay, dự án thoát nước Hà Nội đang đi vào giai đoạn thực hiện. Nhưng giai đoạn I từ 1996 cho đến năm 2005 chỉ là tiêu thoát nước, còn việc xử lý nước thải sẽ thực hiện theo dự án từ năm 2005 trở đi. Vì vậy, nhân dân sống xung quanh các kênh mương vẫn phải chịu đựng đến khi dự án hoàn thành. Mong rằng các cấp chính quyền sớm có các biện pháp dù là tạm thời làm giảm sự ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường nước để nhân dân không phải ở trong cảnh phải sống chung với ô nhiễm.
“Nước đã đến chân”
Xã Tân Đức (huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây) đang phải đối mặt với nạn sạt lở. Như dự báo của đoàn chuyên gia bộ công nghiệp thì, có thể chỉ 2 đến 3 năm nữa, Tân Đức sẽ bị biến mất trên bản đồ.
Đất lở đe dọa dân
Ngày 8/8/2001, chúng tôi có mặt tại xã Tân Đức. Bà con cho biết: lúc 1 giờ sáng ở xóm Bãi, một khoảng đất gần 150m2 đã bị sạt. Đặc biệt, mực nước sông Hồng đang xuống rất nhanh nên tốc độ sạt lở diễn ra càng mạnh.
Từ năm 1994, khi hồ chứa nước thủy điện Hòa Bình được đưa vào hoạt động, hiện tượng sạt lở bắt đầu xuất hiện ở Tân Đức rồi diễn ra hâu như quanh năm, mạnh nhất là vào các tháng 1 và 11. Anh Nguyễn Văn Hữu cho biết: từ năm 1997, mỗi năm dòng sông “ngoạm” vào bờ khoảng 100m. Riêng từ đầu năm đến nay, nước đã lấn bờ hơn 200m. Hiện có 20 hộ dân đang phải giành giật từng mét đất với con sông. Ông Đỗ Văn Cảnh, chủ tịch ủy ban nhân dân xã Tân Đức đưa ra những con số thống kê thật ấn tượng: diện tích cả xã là 317ha (gồm đất thổ cư, đất canh tác, công trình phúc lợi), nay chỉ còn 75 ha (23,6%). Mấy năm trước, mỗi nhà được hơn 1 mẫu đất. Năm ngoái còn vài thước, năm nay: hết đất!
Thu Hồng – Du lịch – Tổng cục du lịch- Bộ văn hóa – Thông tin- Du lịch – Hà Nội – Số 34- Năm 2001

Phố xưa với nhà hàng chả cá Lã Vọng

Nhà hàng chả cá Lã Vọng nằm ở số nhà 14, phố Chả Cá – quận Hoàn Kiếm – Hà Nội. Nhà hàng này đã nổi tiếng hàng trăm năm nay về nghề làm và bán chả cá. Với cách chế biến – gia giảm, mà cá ở đây có hương vị đặc biệt, thơm ngon đậm đà, để lại dư vị cho những ai đã từng thưởng thức. Chả thế mà một số bà con Việt kiều về nước, những khách nước ngoài đến Hà Nội, khi nghe giới thiệu cũng đều đến đây để ăn một lần cho biết.
Được biết, cuối thế kỷ trước, phố Chả Cá này chính là ngõ Hàng Sơn, thuộc thôn Đồng Thuận, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương chuyên bán sơn ta. Khi đó bố chồng cụ Tình là người họ Đoàn, cùng vợ là cụ Trưởng Mền, có tài làm món đặc sản là chả cá nướng, đã mở cửa hàng tại đây. Mới đầu khách đến ăn còn thưa thớt, sau vì món chả cá nướng làm rất ngon và hấp dẫn người ăn, nên dần dần khách đến rất đông. Đến đầu thế kỷ 20 (1900), cửa hàng mới bày thêm tượng ông Lã Vọng ngồi câu cá, do đấy khách hàng mới gọi tên hiệu là “Chả cá Lã Vọng”. Về sau ở phố Hàng Sơn không còn ai bán sơn nữa, nhưng nhiều người vẫn tìm đến đây để ăn chả cá, lâu dần người ta quen gọi là phố Chả Cá, dù cả phố chỉ có một cửa hàng bán chả cá.
Buổi tối, khách nước ngoài cũng như khách trong nước và người dân Hà Nội đến thưởng thức chả cá rất đông. Cái hay và đặc biệt của cửa hàng chả cá Lã Vọng còn ở chỗ, ngôi nhà cổ này được xây dựng vào năm 1885, tuy được sửa sang lại vài lần, nhưng một số đồ nội thất như chiếc cầu thang gỗ, chiếc ghế dài cũ kỹ và một số đồ vật khác với hàng trăm năm tuổi vẫn được gia đình lưu giữ cho thấy truyền thống lâu đời của nhà hàng.
Nhà hàng chả cá Lã Vọng gắn liền với phố Chả Cá là một địa chỉ hấp dẫn cho du khách muôn phương mỗi khi đến Hà Nội.
Bún Huế
Từ lâu, bún Huế đã là một món ăn nổi tiếng khắp đất nước. Nó được sánh ngang với phở của người Hà Nội, hủ tiếu của Sài Gòn, còn người Huế thì xem nó là một đặc sản dùng để chiêu đãi những người bạn phương xa. Để tạo ra hương vị cho bún Huế người nấu phải ninh xương bò, xương heo từ trước. Nồi nước xáo của bún Huế phải có vài ba củ sả gồm cả lá ninh cùng với giò heo được chặt thành từng khoanh và chỉ ninh mềm vừa phải để có vị ngọt nhưng chỉ béo tương đối.
Muốn tạo ra hương vị đặc trưng cho bún Huế nhất thiết phải có ruốc ngon. Người nấu phải nêm ruốc sao cho chỉ giữ lại mùi thơm của ruốc mà người ăn lại không thấy có ruốc xuất hiện ở trong bún. Để tạo màu sắc cho nước bún, người nấu thường phi loại ớt bột ít cay trong mỡ rồi đổ vào nước bún, làm cho tô bún luôn có lớp váng mỡ đỏ lóng lánh. Thịt bò dùng cho bún cũng cần thật tươi, lại được thái lát to và mỏng. Mỗi tô bún một khoanh giò, thêm gân thêm chả, bò tái hay bò chín tùy theo yêu cầu của khách. Sợi bún phải vừa mềm, vừa dai, vừa giòn. Tô bún khi ăn được rắc thêm một ít tiêu bột, một nhúm hành thái nhỏ, ăn ghém cùng một đĩa giá sống có kèm sợi bắp chuối và rau thơm. Ngoài ra còn có một đĩa nhỏ đựng ớt ớt trái và mấy lát chanh nhỏ cho khách tùy nghi sử dụng. Sự hòa quyện giữa vị ngọt của nước hầm, mùi thơm của ruốc, của sả, vị cay và thơm của ớt tươi, hành lá, chanh… đã tạo nên một hương vị đậm đà khó quên và rất riêng của bún Huế. Sẽ khiến cho người ăn dù no rồi vẫn cứ “thòm thèm”.
Đoàn du khảo Bỉ đến Việt Nam
Chi nhánh Công ty Du lịch Kon Tum tại Đà Nẵng vừa tổ chức cho đoàn du khảo bằng xe đạp và xe máy gồm 65 khách là các nhà báo và các nhà nghiên cứu văn hóa Bỉ tham quan tìm hiểu lịch sử, văn hóa, tiềm năng du lịch… tại Thành phố Hồ Chí Minh, miền tây Nam bộ, Hà Nội và các di sản thế giới Hội An, Mỹ Sơn, Huế, Vịnh Hạ Long. Chuyến du khảo của đoàn nhằm mục đích thu thập tài liệu, hình ảnh để viết bài tuyên truyền về văn hóa, du lịch Việt Nam ở nước ngoài.
Công nhận di tích lịch sử đường Hồ Chí Minh
Đường Hồ Chí Minh thuộc các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Gia Lai, Kon Tum, Bình Phước vừa được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa. Quyết định này thay thế một số quyết định trước đây của Bộ Văn hóa Thông tin công nhận các điểm di tích dọc đường Trường Sơn. Tháng 12/2001 và năm 2002, Bộ Văn hóa Thông tin sẽ phối hợp với Bộ Quốc phòng khảo sát và lập hồ sơ công nhận tiếp một số di tích trên tuyến đường Hồ Chí Minh.
Đoàn Ngự Bình – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 44(209)2001

Âm vang Địch Lộng

Địch Lộng là một quần thể di tích độc đáo về kiến trúc, đặc biệt về thiên tạo. Toàn cảnh chùa là sự kết hợp hài hòa những công trình kiến trúc giữa con người và tạo hóa, có cao sâu tương xứng, âm dương đối đãi, sáng tối hài hòa, có thi, ca, nhạc, họa, và cây cối xanh tươi tạo nên một bồng lai tiên cảnh giữa trần thế.
Tương truyền, Địch Lộng được một tiều phu phát hiện vào năm 1739. Đây là một quần thể kiến trúc văn hóa hài hòa trong cảnh trí thiên nhiên đầy sức quyến rũ. Dưới chân núi, hệ thống kiến trúc đình, đền và chùa được xây dựng theo thế chữ “tam”, trên khu đất rộng hơn một ha. Qua Tam Quan uy nghiêm thanh thoát, ta đến ngôi đình đá tưởng niệm Nguyễn Minh Không – ông tổ của nghề đúc đồng, nơi có tám cột cái bằng đá xanh nguyên khối tròn, to, cao hơn 4m, được chạm khắc nổi những con rồng lớn đang uốn lượn trong mây, hay cá chép khát vọng vượt vũ môn hóa rồng với đường nét sống động. Ngoài ra còn những cột đá khác được khắc nổi những câu đối bằng chữ Hán gợi lên nét tinh hoa của nghệ thuật dân gian.
Cách đo không xa là cây tai chua đã trên 100 tuổi, cây muỗm gần 2 thế kỷ, là nơi nương nhờ cõi phật của các linh hồn tha hương. Men theo sườn núi, bước lên 9 bậc đá là “Tối Linh Từ” – phủ Đức Ông có nhiệm vụ trông coi toàn bộ cảnh chùa. Leo khoảng 100 bậc đá nữa du khách sẽ tới động Địch Lộng. Cửa động có 6 chữ lớn: “Nam Sơn động, Cổ Am tự”, hai bên tả hữu có hai tượng hộ pháp cao lớn tạo cảm giác tự tin ấm áp. Trên vách trái động cao khoảng 8m có treo một quả chuông lớn, nặng khoảng 1 tấn được đúc ở thời Nguyễn. Bên phải là ban thờ Phật – đó chính là chùa Địch Lộng. Chùa quay hướng Nam, hướng của trí tuệ, có nghĩa là đạo Phật luôn lấy trí tuệ làm đầu. Trước cửa chùa có các khối đá giống hình voi chầu, hổ phục, sư tử chầu, đại bàng xuất tổ, vợ chồng người tiều phu, và rất nhiều thạch nhũ lấp lánh như sao sa. Bên cạnh là dòng nước trong lành được chắt chiu từ lòng của đá đang ngày đêm miệt mài chảy xuống hai giếng ngọc không bao giờ ngừng. Trong chùa rất rộng, có các ban thờ tam thế Phật, di đà tam tôn, bụt mọc, thích ca mâu ni, di lặc tâm tôn, ngọc hoàng thượng đế, đặc biệt là hai pho tượng Phật Bà Quan m và A Di Đà được tạc bằng đá xanh nguyên khối.
Vào Hang Tối là vào với thế giới điệp trùng của đá với đủ mọi hình dáng ngoạn mục hiện ra từ hàng ngàn nhũ đá kết hợp với sự tưởng tượng phong phú của con người như: bầu sữa mẹ ngọt ngào, voi uống nước chum, hùm uống nước vại, phượng múa, cá giương vây, rồng cuốn nước, khĩ cõng con…
Đến Hang Sáng, ngay cửa hang đã hình thành nên hai ngã âm dương, điều tuyệt vời của tạo hóa trước quy luật của đất trời. Lối xuống âm phủ có nhiều thạch nhũ mang hình dáng: tòa lầu của Diêm Vương, thuồng luồng, ba ba, rắn rết, và cả ngục quỷ sứ. Theo người bản xứ, nếu ta bỏ một quả bưởi xuống hang sâu vào mùa nước lớn, mấy ngày sau thấy nổi lên ở sông Đáy. Còn cổng trời chính là một cây sáo khổng lồ bằng đá của tạo hóa, ngàn năm vi vu giữa đất trời mênh mông. Bước tới cổng trời du khách sẽ được chiêm ngưỡng những hình thù kỳ lạ như cảnh tiên sa, cô Chín giếng cầu gãy, được thưởng thức những âm thanh trầm bổng lạ kỳ của dàn thạch cầm, nghe lanh lảnh như tiếng chuông, bập bùng như tiếng trống, âm u như tiếng mõ, được ngắm những dải mây ngũ sắc thay đổi theo ánh sáng mặt trời: hồng lúc rạng đông, lấp lánh như pha lê buổi trưa hè và rực đỏ lúc hoàng hôn và được bao quát cả một vùng non nước Ninh Bình: kia núi Dục Thúy, núi Ngọc Mỹ Nhân, cố đô Hoa Lư lịch sử… đây sông Hoàng Long, sông Đáy đang uốn lượn làm nên bức tranh sơn thủy toàn bích, tạo cảm giác thư thái êm dịu.
Công ty Bayer bị kiện
Nhiều luật sư Mỹ đang thu thập chứng cứ và đơn kiện của các nạn nhân để kiện công ty dược phẩm Đức Bayer (đóng trụ sở tại bang Bavaria) ra trước tòa án Mỹ, vì cho rằng công ty này đã kinh doanh loại thuốc Lipobay (thuốc giả lượng mỡ trong máu) dẫn đến tử vong cho 50 nạn nhân ở nước này. Luật sư người Đức Michael Witti cho biết ông cũng đang thu nhập chứng cứ ở Đức để tham gia vụ kiện của các luật sư Mỹ đối với công ty Bayer.
Mới đây, sau khi cơ quan y tế ở Mỹ phát hiện nhiều trường hợp người Mỹ chết do sử dụng loại thuốc Lipobay, công ty Bayer đã phải quyết định thu hồi loại thuốc kể trên và việc làm này có thể gây thiệt hại cho công ty khoảng 1,3 tỷ D-mác. Theo công ty Bayer cho biết, riêng năm 2000 trên thế giới đã có khoảng 6 triệu người điều trị bằng loại thuốc Lipobay, đồng thời xác nhận rằng loại thuốc này có thể gây ra những tác động phụ nguy hiểm như hủy hoại cơ bắp; nếu được sử dụng cùng với loại thuốc kích thích Gemfibrozii thì có thể làm thận không còn khả năng hoạt động kéo theo hậu quả tử vong. Viện nghiên cứu về an toàn dược phẩm Đức cho biết họ đã nhận được 90 bản báo cáo về trường hợp cơ bắp bị hủy hoại liên quan đến sử dụng thuốc Lipobay.
Quảng Nam: doanh thu du lịch tăng gấp đôi
Nhờ đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá và xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, đưa thêm 3 khu du lịch biển vào hoạt động, 7 tháng đầu năm 2001, Quảng Nam đã đón gần 88.900 lượt khách du lịch, tăng 36% so với cùng kỳ. Trong đó, khách quốc tế là 72.400 lượt, tăng 43%. Tổng doanh thu chuyên ngành gần 42,3 tỷ đồng, tăng 94,1 % so với cùng lỳ năm 2000. Tỉnh Quảng Nam đang gấp rút chuẩn bị cho chương trình Famtour vào dịp rằm tháng 7 năm nay với sự bảo trợ chính của Vietnam Airlines nhằm tăng cường công bố tuyên truyền quảng bá hình ảnh của du lịch Quảng Nam và miền Trung đến với bạn bè quốc tế.
Thanh Hương- Du lịch – Tổng cục du lịch- Bộ văn hóa – Thông tin- Du lịch – Hà Nội – Số 34- Năm 2000

Các cô gái chưa chồng ở Nhật sẵn sàng tiêu pha…

Trong các nhà hàng sang trọng ở Nhật Bản xuất hiện càng nhiều các cô gái Nhật trẻ trung, diện trang phục hợp thời trang nhất và hết sức tự tin. Họ thường đi thành nhóm và rất thích các loại hàng mốt nhất hoặc rủ nhau đi du lịch khắp nơi trên thế giới. Họ mệnh danh là những cô gái ” ở vậy hưởng thụ”.
Nước Nhật đánh giá lối sống ” phung phí hoang tàn” của họ khác nhau. Các bậc cao niên, kỹ tính thì chê trách họ nhưng giới kinh tế thì ngưỡng mộ và chiều chuộng họ hết mức. Điều này không có gì là khó hiểu khi kinh tế Nhật Bản bị suy thoái kéo dài và người Nhật, nhất là các ông chồng, chủ gia đình, phải hết sức tằn tiện chi tiêu phòng khi cơ nhỡ.
Các cô gái sẵn sàng tiêu pha xả láng này thường trên dưới ba mươi và là những người sống độc thân. Cô Hiromi, 36 tuổi, là phiên dịch và trợ lý cho một số đài phát thanh truyền hình khoe, cô muốn tận hưởng sự tự do và cuộc sống sang trọng. Cô cùng các bạn gái khác thường xuyên mua sắm đồ dùng đắt tiền và đi du lịch ở Áo, Scottland và Hawaii, vào dịp đầu năm cô cùng bố sang Úc chơi golf. Sở dĩ Hiromi có thể sống như vậy là vì cô ” may mắn sống độc thân” nên vẫn sống chung với bố mẹ nhờ vậy tiết kiệm được khoản tiền thuê nhà vốn không nhỏ ở Nhật Bản. Tỷ lệ phụ nữ chưa chồng ở lứa tuổi 25 – 29 ở Nhật Bản trong 15 năm qua đã tăng từ 24 lên 48 %. Những người phụ nữ độc thân này lại không bị ảnh hưởng nhiều bởi các biến động kinh tế trong những năm gần đây vì nói chung lượng phụ nữ Nhật thấp hơn so với nam giới, và thông thường họ chỉ làm nửa ngày vì thế họ ít chịu áp lực về việc làm như nam giới.
Chính nhờ sức mua của lớp phụ nữ này mà thị trường tiêu thụ hàng mỹ phẩm cao cấp, điện thoại di động, computer, internet và xe ô tô du lịch mini đã tăng khá mạnh trong những năm suy thoái nặng nề vừa qua.
Trong khi đó tầng lớp bảo thủ chỉ trích lớp phụ nữ này là ” những kẻ ăn bám không chồng” vì không lấy chồng, không có con có nghĩa là vô trách nhiệm trước xã hội. Do dân số giảm liên tục, chính phủ Nhật đã dành hẳn 1,5 tỷ đô la cho chương trình khuyến khích sinh đẻ.
Cô Shihori, 25 tuổi, nói:” tôi hiểu phản ứng của xã hội, nhưng dù sao tới đây vẫn chưa muốn lấy chồng vì bởi lẽ người phụ nữ Nhật sau khi có gia đình phải nghỉ đi làm để lo chuyện nội trợ, nuôi dậy con cái và hoàn toàn sống dựa vào chồng. Chúng tôi muốn được như phụ nữ châu u hoặc Hoa Kỳ, khi có con vẫn có thể đi làm.
Chào mừng quốc khánh Liên bang Nga (12/06)
Quan hệ Việt – Nga nửa thế kỷ qua
Nhân dịp quốc khánh Liên bang Nga (12/6) chúng tôi đã có cuộc gặp gỡ, trao đổi với ngài Pete Tsvetov- trưởng đại diện trung tâm hợp tác quốc tế khoa học và văn hóa Nga về mối quan hệ giữa hai nước trong nửa thế kỷ qua cũng như triển vọng phát triển trên mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…. đặc biệt là vấn đề về du lịch.
Trong những năm 1950- 1970, ở Việt Nam có nhiều người biết về Liên bang Nga và ngược lại, nhưng chỉ sau khi thiết lập mối quan hệ thì hai nước mới thực sự mở rộng quan hệ trên mọi lĩnh vực. Đặc biệt hiện nay, khi hai nước cùng chuyển sang cơ chế thị trường thì sự hợp tác càng được đẩy mạnh. Thành tựu lớn nhất trong quan hệ hợp tác là đảng, chính phủ và nhân dân hai nước luôn sát cánh bên nhau thể hiện như: các nhà máy thủy điên Hòa Bình, Yaly, Hàm Thuận – Đa Mi, nhà máy lọc dầu Dung Quất… đã và đang được xây dựng. Tiếp tục hợp tác trong công nghiệp khai thác than, khoáng sản, chế tạo máy, hóa chất, xây dựng, giao thông…Ở Việt Nam hiện nay có gần 30 xí nghiệp liên doanh với tổng số vốn đầu tư là 120 triệu usd. Trên lãnh thổ Nga có hơn 300 công ty của người Việt Nam đang hoạt động.
Ông Tsvetov cho biết: những năm gần đây quan hệ ngoại giao giữa các đoàn đại biểu cấp cao liên tục hơn, đặc biệt về văn hóa.
Khi bàn về vấn đề du lịch, ông Pete Tsvetov nhận xét theo thực tế, số lượng người giao lưu giữa hai nước là chưa thỏa đáng, chủ yếu là du học và làm việc, còn lượng người đi du lịch thì quả là đáng buồn. Một số nguyên nhân chính mà ông Pete Tsvetov đưa ra là: thứ nhất hai nước có khoảng cách xa về địa lý. Đối với khách du lịch Nga chi phí cho một chuyến đi sang Việt Nam tương đương với chi phí từ Nga sang Ý, Ba Lan. Đối với người Việt Nam cũng vậy, kinh phí đi du lịch sang Nga còn cao hơn sang Thái Lan, Singapore…. Thứ hai là do đầu tư và sức hút của ngành “công nghiệp không khói” chưa đủ mạnh. Chẳng hạn khi so sánh giữa Việt Nam và Thái Lan, thì điều kiện tự nhiên, khí hậu hai nước là tương đương nhau. Vậy thì tại sao du lịch Thái Lan lại thu hút được khách Nga hơn? Khách sạn Thái Lan nếu so về quy mô ngang nhau và rẻ hơn. Thứ ba là đội ngũ hướng dẫn viên du lịch dường như chưa được trang bị đầy đủ lắm về kiến thức lịch sử, địa lý. Nguyên nhân cuối cùng là vấn đề quảng cáo. Do chưa đẩy mạnh nên một số người Nga nghĩ rằng: Việt Nam vẫn như thời kỳ sau chiến tranh, vẫn còn nghèo, vẫn còn thiếu thốn nhiều mặt. Vì vậy mà hiện nay để thu hút được lượng du khách du lịch nước ngoài nói chung, Việt Nam vẫn phải đẩy mạnh khâu tuyên truyền quảng cáo , mà hình thức khả thi nhất theo ông Pete Tsvetos là ngành du lịch Việt Nam mời các phóng viên báo truyền hình của các nước cùng tham gia hợp tác. Vì không gì hiệu quả bằng người của họ tuyên truyền đến nhân dân họ.
Ban quốc tế- Du lịch – Tổng cục du lịch- Bộ văn hóa – Thông tin- Du lịch – Hà Nội – Số 33- Năm 2000

Đôi điều cảm thụ

Thật hạnh phúc cho người làm báo là Bác Hồ đã dùng từ nhân xưng hô mình khi tiếp xúc, trò chuyện với báo giới, những người hậu sinh của Bác. Bởi như lời Bác nói, Bác là người : có nhiều duyên nợ với báo chí”.
Lịch sử tôn vinh Hồ Chí Minh là Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, cũng chính Người đã sáng lập nền báo chí cách mạng Việt Nam, khởi nguồn cách đây bảy chục năm có lẻ (21/ 6/ 1925).
Cách viết của Bác Hồ – Đôi điều cảm thụ. Nhân ngày báo chí Việt Nam (21/ 6), đọc lại tuyển tập các bài báo của Bác hẳn là một việc rất bổ ích để nghiệp báo càng thêm sáng.
Riêng tôi trong dịp đọc lại này đã chú ý nhiều hơn đến đoạn hồi ức của Bác mà hồi còn trai trẻ, tôi chỉ đọc lướt qua.
– Khi mình đi qua Liên Xô – lời Bác kể – đồng chí X phóng viên tờ Tiếng còi, bảo mình viết bài và dặn phải viết sự thật; Việc đó ai làm, ở đâu, ngày tháng năm nào v.v… và phải viết ngắn gọn. Cách đấy mấy năm mình trở lại Liên Xô. X lại bảo: “Chớ viết khô khan quá”, phải viết cho văn chương. Vì ngày trước khác, người đọc báo chỉ muốn biết những sự thật. Còn bây giờ thì khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy hay, thấy văn chương mới thích đọc (Bài nói của Bác tại Đại hội II HNBVN, 1959). Lần đầu tiên Bác viết bài cho báo Tiếng còi vào năm 1924. Cuối năm đó, Bác từ Mát – xcơ – va về tới Quảng Châu. Đến 1927 Bác lại sang Mát – xcơ – va. Chỉ có ba năm ngắn ngủi vậy mà đòi hỏi của bạn đọc khác hẳn! Khác đến mức nếu viết thư trước thì bạn đọc sẽ lắc đầu, chê từ vựng nghèo nàn, văn phòng đơn điệu, khô khan, không có gì hay lạ.
Thế mới hay khi mức sống cũng cao hơn thì con người cũng đâm khó tính, sành sỏi hơn trong việc “ẩm thực” (vật chất lẫn tinh thần).
Cách viết không chút “dẩm ớt”, rặt “chém to kho mặn” trở nên cũ kỹ, không còn sức hấp dẫn. Bạn đọc thờ ơ với những bái báo đúc khuôn, cộc lốc, khô như ngói, chỉ trả lời bằng lối văn báo cáo một cách đơn giản mấy câu hỏi sơ đẳng; ai làm? ở đâu? Ngày, tháng, năm nào? … Bạn đọc đâu chỉ cần biết sự kiện, mà còn đòi hỏi cao hơn: một cách nhìn riêng, một cách hiểu độc đáo, tầm tư duy và tài nghệ văn chương của tác giả – văn biểu cảm, văn nghị luận.
Từ dạo Bác Hồ viết báo Tiếng còi đến hay, hơn bảy chục năm đã trôi qua. Bộ mặt hành tinh có biết bao sự thay đổi! Nhờ các phương tiện giao thông cao tốc và mạng lưới truyền thanh, truyền hình bằng kỹ thuật điện toán, vệ tinh, các khoảng cách dường như bi rút ngắn. Bây giờ, từ giường ngủ qua máy thu hình ta có thể ngay lập tức thì theo dõi những biến cố khắp trái đất, kể cả các thiên thể trong bao la vũ trụ.
Ngày nay, công chúng – đối tượng phục vụ của người làm báo chúng ta đã khác trước về chất. Cả nước có hàng chục triệu học sinh phổ thông, hơn nữa triệu người có bằng đại học, ngót vạn người đạt học vị tiến sĩ, số giáo sư đã vượt con số ngàn.
Viết như thế nào để lọt “mắt xanh” các “thượng đế” này, để họ khỏi nhíu mày, cười tủm tỉm, quả không dễ!
Có đồng chí hỏi kinh nghiệm làm báo của Bác. Kinh nghiệm của Bác Hồ là kinh nghiệm ngược. Bác học viết báo Pháp rồi học viết báo Trung Quốc, rồi sau mới học viết báo Việt Nam (Bài nói của Bác tại Đại hội II HNBVN, 1959).
Nhiều bài báo của Bác thật chất phác, nôm na, người mới học xong “I, tờ” cũng hiểu. Đó là những bài Bác viết cho đồng bào ta đọc trong những ngày đầu Cách mạng Tháng 8, khi trình độ học vấn của số đông còn rất thấp. Song Bác Hồ không chỉ viết những bài nôm na, thật như đếm. Giờ đây nếu chịu khó ngồi đọc Hồ Chí Minh toàn tập (tập 1, 1920 – 1925 – Nhà xuất bản Sự thật 1980) ta sẽ bắt gặp nhiều bài báo ký Nguyễn Ái Quốc rất bóng bẩy, tế nhị, thâm trầm: rất hay, rất lạ, rất văn chương. Và cũng chẳng thiếu những trường hợp Anh Nguyễn không ngần ngại dùng đến sức tưởng tượng, bay bồng của nhà thơ, những hư cấu táo bạo của tiểu thuyết gia, cũng như lối văn chặt chẽ, hàm súc của nhà bác học. Đó là những bài Bác đưa in ở các trung tâm văn hóa lớn như Pari, Mát – x-cơ- va, Rô – ma, Béc – lin dành cho các bạn đọc khó tính.
Cách viết (còn gọi là văn phong) của Bác mang dấu ấn riêng rất độc đáo. Đọc những bài báo của Bác ngày càng lại ngày, văn ta ngày thêm trong sáng.
Hợp tác vận chuyển hành khách trên sông Mê – K-ông
Sáu nước bao gồm Trung Quốc, Myanmar, Lào , Thái Lan, Campuchia và Việt Nam là những nước có chung dòng sông Mê – K-ông sẽ bắt đầu hợp tác đưa con sông này vào phục vụ hoạt động chuyên chở hành khách kể từ cuối tháng 6 này. Tổng chiều dài tuyến đường sông được khai thác sẽ là 886 km, bắt đầu từ cảng Simao thuộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và kết thúc tại cảng Louang Prabang (Lào). Khai thông tuyến vận chuyển hành khách này sẽ mở ra nhiều triển vọng tốt đẹp cho ngành du lịch các nước trong vùng sông Mê – K-ông.
Việt Kiều tại Nga đầu tư xây dựng khu nghỉ mát ở Nha Trang
Một công ty của nhóm Việt kiều tại Liêng bang Nga có tên Công ty Đầu tư phát triển du lịch Rus – Invester đang lập dự án đầu tư xây dựng tổ hợp du lịch – nghỉ mát – an dưỡng tại thành phố biển Nha Trang. Tổ hợp này có tên gọi là khu nghỉ dưỡng nghỉ mát Nàng tiên cá rộng 39 ha, tổng vốn đầu tư cho dự án vào khoảng 15 triệu USD. Dự án sẽ được triển khai xây dựng vào cuối năm 2001 và hoàn thành sau 2 năm.
Hoàng Việt Hằng – Du lịch – Tổng cục Du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 25 (190) – Năm 2001

Một tặng phẩm quý giá

Lời nhận xét: “Nghệ thuật sân khấu chèo là tài sản độc đá, quý trọng kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam”, của ông Jim Hoàng một Việt Kiều ở Mỹ, quả không ngoa chút nào. Từ bao đời nay, chiếu chèo Nam đã là món ăn tinh thần không thể thiếu được của người dân Nam Định, nhất là trong các dịp hội hè, đình đám, tế lễ, tết nhất, …
Nghệ thuật chèo đã phản ánh một cách tinh tế những sinh hoạt và tình yêu quê hương đất nước, tình làng nghĩa xóm, khát vọng hòa bình yêu chuộng tự do, công lý của dân tộc Việt Nam. Nghệ thuật chèo là thể loại ca kịch sân khấu truyền thống của Việt Nam có từ lâu trong dân gian bao gồm những cách: nói lối, hát, ngâm, vịnh, vỉa, múa có nhạc đệm… Bằng tài năng diễn xuất của diễn viên, tính thẩm mỹ, tính nghệ thuật trong sân khấu chèo cổ đã được thể hiện công phu và có chiều sâu trí tuệ. Người xem và diễn viên dễ dàng đồng cảm trong giao lưu nghệ thuật, chèo bằng những màn trình diễn giàu chất dân gian như vở Nhị độ mai, Nỗi oan Thị Kính; hay trong hát trống quân cò lả, múa hầu đồng, múa sênh tiền, …
Sức sống của chiếu chèo Nam đã được khẳng định ở trên sân khấu trong nước và quốc tế. Hy vọng chiếu chèo Nam sẽ là tặng phẩm quý giá cho du khách mỗi khi ghé thăm Nam Định.
Công viên văn hóa Tức Mặc là bức tranh thu nhỏ của phong cảnh thiên nhiên làng quê Nam Định. Nơi đây có cây đa, giếng nước, mái đình đã từ lâu hẳn in trong ký ức của mỗi người; và nó được các nhà thiết kế mỹ thuật nâng lên tầm nghệ thuật. Cây đa, giếng nước mái đình ấy thật sống động bên hàng cau sai quả soi bóng xuống hồ nước trong xanh, nơi có những con cá chép hồng bơi lội và hàng sỉ rủ những chùm rễ như tơ vương xuống mặt nước tạo nên sự thơ mộng đậm chất một chốn quê. Nơi đây đã họp tụ họp các loại cây quý hiếm tiêu biểu của mọi miền đất nước như dừa Nam Bộ, cọ Phú thọ, ban Tây Bắc…
Còn gì thú vị hơn khi giữa thành phố ồn ào Công Viên Văn hóa Tức Mặc cho chúng ta một không gian thơ mộng và tĩnh lặng.
Với các nhà nghiên cứu lịch sử dân tộc, Công viên Văn hóa Tức Mặc là một phần lịch sử mỹ thuật độc đáo được thể hiện từ vóc dáng ngôi nhà giả núi hình con hổ đến những hiện vật thời Lý – Trần có niên đại từ 700 đến 900 năm (như mặt đá chạm rồng, đồ đất nung, đồ gốm sứ, đồ gỗ…), những di vật thời Lê – Nguyễn (với những bức chạm gỗ tinh xảo như: Quan ghẹo gái”, “Thuyền cập bến”; “Dàn nhạc thủy tộc”) và nhiều hiện vật khai vật được trong ngôi mộ xác ướp của bà Phạm Thị Nguyên Chân, vợ Quận công Đặng Đình Tướng cách đây 300 năm ở Vân Cát (Vụ Bản) …
Với tiềm năng sẵn có được trình diễn công phu, Công viên Văn hóa Tức Mặc hiện đang trở thành địa chỉ du lịch lý thú của thành Nam.
Nằm ở cuối đường Trần Hưng Đạo thành phố Nam Định, Công viên Văn hóa
– địa chỉ du lịch lý thú.
Trên đỉnh Bà Nà
Bà Nà nằm ở huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam, Cách thành phố Đà Nẵng 40 km về phía Tây Bắc. Đỉnh núi trải rộng như một cao nguyên nho nhỏ với khung cảnh tuyệt vời. Những ngày trời quang, du khách có thể ngắm toàn cảnh thành phố bên bờ sông hàn, có thể thấy rõ bán đảo Sơn Trà với bãi biển trải dài, xa hơn nữa là dòng Thu Bồn uốn lượn quanh những cánh đồng trù phú. Dưới chân núi là dòng suối Mơ 9 tàng, với làn nước trong xanh, mát lạnh đủ xua tan cái nóng bức sau một đoạn đường vất vả cho du khách.
Bà Nà còn hấp dẫn bởi cánh rừng nguyên sinh đại ngàn, những đồi thông xanh ngắt tuyệt dẹp. Du khách có thể ở lại trong những căn nhà được xây theo mô típ của nhà rông Tây Nguyên, cũng có thể căng lều bạc để nghỉ.
Nếu muốn tham gia chương trình này, bạn hãy liên lạc với công ty Thương mại – lữ hành quốc tế Green tour, 24 – Phương Mai – Hà Nội. Hoặc Trung tâm Du lịch lữ hành Phương Nam, số 1 Chùa Bộc, Hà Nội, ĐT: 04. 5743047. Giá trọn gói mỗi khách/ tour 6 ngày (Hà Nội – Huế – Đà Nẵng – Quảng Nam) là 1.320.000 đồng.
Vùng du lịch Đồng Hỷ, Võ Nhai với đặc điểm có nhiều hang động sẽ được đầu tư xây dựng để phát triển du lịch thể thao, vui chơi, giải trí, nghiên cứu hang động, lâm sinh, du lịch văn hóa các dân tộc … và như vậy du lịch Thái Nguyên sẽ rất “cất cánh” bởi chính tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng của mình.
Diệp Hiền – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 40 (205) – Năm 2001

Đẩy mạnh quảng bá

Bên cạnh việc đa dạng hóa sản phẩm, hoàn thiện chất lượng dịch vụ, Công ty cũng chú trọng đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền quảng bá, tiếp thị sản phẩm ra thị trường, tham gia nhiều hội chợ thương mại-Du lịch trong và ngoài nước. Hiện nay, Công ty đã có mối quan hệ làm ăn với hơn 70 hãng lữ hành nội địa và quốc tế, là thành viên chính thức của hiệp hội du lịch châu Á- Thái Bình Dương (PATA), Hiệp hội du lịch Nhật Bản (JATA), Hiệp hội du lịch Hoa Kỳ (ASTA). Ngoài các thị trường truyền thống ở Châu u,Công ty đã mở rộng thêm một số thị trường và đối tác mới tại Nhật,Mỹ và các nước thuộc ASIAN…
Mở rộng các hoạt động xã hội
Bên cạnh hoạt động kinh doanh,Công ty còn tham gia các hoạt động xã hội như nhận phụng dưỡng suốt đời 5 bà mẹ VNAH, đỡ đầu con liệt sĩ, con em bị chất độc màu da cam, con thương binh nặng, tham gia xây dựng các quỹ đền ơn đáp nghĩa, quỹ tình thương ủng hộ đồng bào bị lũ lụt, tham gia nhiều hoạt động nhân đạo từ thiện với số tiền vài chục triệu đồng mỗi năm.Công ty luôn chăm lo xây dựng đội ngũ lao động có trình độ tay nghề cao, tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ, TDTT để tầng bước nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho người lao động.
Thành lập từ năm 1990, trên cơ sở sát nhập Công ty Du lịch và Công ty Dịch vụ ăn uống của thị xã Hội An với số vốn chỉ vỏn vẹn 470 triệu đồng, đến nay tài sản của Công ty Du lịch Dịch vụ Hội An đã lên đến 59,8 tỷ đồng, tăng gấp 125 lần so với ban đầu. Sau 10 năm hoạt động, Công ty đã đón và phục vụ hơn 221.300 khách, trong đó có hơn 201.570 khách quốc tế. Tổng doanh thu từ dịch vụ du lịch từ 280 triệu đồng (năm 1992) lên 18,95 tỷ đồng năm 2000, và ước đạt 32 tỷ đồng trong năm 2001. Nộp ngân sách tăng bình quân hàng năm 30,3%, lợi nhuận tăng bình quân hàng năm 44%, lượt khách tăng 17%/năm, công suất sử dụng buồng phòng luôn ổn định từ 65% trở lên.
Với những thành tích đã đạt được, Công ty được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng 3, Chính phủ tặng cờ luân lưu về thành tích hoàn thành tốt nhiệm vụ, dẫn đầu phong trào thi đua năm 1998, Tổng cục Du lịch tặng cờ thi đua xuất sắc trong 10 năm đổi mới, Bộ Công an trao cờ luân lưu xuất sắc 3 năm liền 1998-1999. Nhiều cả nhân trong Công ty đã nhận được nhiều phần thưởng của Chính phủ và Tổng cục Du lịch.
Đa dạng hóa sản phẩm
Về chặng đường sắp tới, chị Võ Thị Thu, giám đốc Công ty cho biết: Công ty sẽ tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng dịch vụ đạt tiêu chuẩn quốc tế; Mở rộng và đầu tư thêm các dịch vụ tắm biển, đi thuyền buồm, thuyền chèo, lướt ván, đá bóng trên cát, cắm trại, kéo lưới trên sông, tiệc nướng…tại khu du lịch biển; Xây dựng một cơ sở kinh doanh mới như Khu du lịch Bãi Bìm (Cù Lao Chàm); Trang bị tàu Cù Lao Chàm; Xây dựng và đưa vào khai thác Khu du lịch sinh thái rừng dừa Bảy Mẫu; Ngoài ra Công ty sẽ có kế hoạch tăng cường cán bộ có năng lực quản lý, điều hành; Mở rộng kinh doanh lữ hành nội địa tiến tới kinh doanh lữ hành quốc tế; Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền quảng cáo, tiếp thị sản phẩm, dịch vụ… đặc biệt là quảng cáo qua internet để mở rộng thị trường, thu hút khách; Củng cố các thị trường truyền thống và mở rộng thêm thị trường Nhật, Mỹ, Trung Quốc…
Đầu tư phát triển du lịch Đồng Tháp
Tỉnh Đồng Tháp vừa xây dựng đề án phát triển du lịch đến năm 2005 với tổng vốn đầu tư là trên 40 tỷ đồng. Số tiền này được dành cho các tuyến điểm du lịch cầu Bắc Cao Lãnh, công viên Khổng Tử, công viên Chiến Thắng, khu du lịch Xẻ Quýt, Gò Tháp, Tràm Chim, làng hoa cảnh Tân Qui Đông. Ngoài ra, Đồng Tháp còn liên kết với các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long mở rộng tuyến du lịch trong nước như Quảng Ninh, Nha Trang, Đà Lạt, Vũng Tàu và tuyến du lịch quốc tế đến Trung Quốc, Mỹ, châu Âu…
Nguyễn Thăng Long -Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 41 (206) 2001

Câu cá xưa và nay

Đêm đông gió bắc lạnh lùng
Đèn khuya heo hắt lần từng dây câu
Cá ơi ta đợi đã lâu
Úc kia, chình nọ dính câu hàng đàn
Từ rất lâu, câu cá đã là thú vui của nhiều người. Khi cơn mưa đùa mùa vừa tới, dân câu chuyên nghiệp nhìn dòng nước để phán đoán lúc nào có thể đi câu giăng. Họ chỉ cần một chiếc thuyền có mui vừa đủ che 3 người ngồi, rồi men theo bờ sông, lựa chọn đoạn hẹp để đóng cọc hai bên bờ và giăng dây câu. Dây câu bằng cước 2 ly, dài độ vài trăm mét được giăng dưới mặt nước 0.5m. Dọc dây câu, người ta treo những thẻo câu bằng cước 1.5 ly, dài chừng 2m, đầu lưỡi câu thì mốc mồi bằng giun đất. Các thẻo câu cách nhau 1m. Trên một đoạn sông có đến hàng chục dây câu. Khi đã hoàn thành công việc, họ cùng vào trong mui thuyền đi dọc dây câu xem xét, thấy cá mắc mồi thì kéo lên. Với dân chuyên nghiệp, câu các là nguồn sống, vừa là thú vui của họ. Nhiều người đam mê câu cá và coi đó là một cách thư giản tuyệt vời. Họ chỉ cần ra những cái ao cạnh nhà, thong thả buông cần trúc để xua đi những lo toan thường nhật. Lúc ấy họ chỉ biết theo dõi chiếc dây câu đang dập dềnh trên nước. Giữa một không gian mênh mông sông nước, với chiếc cần câu nhỏ ta hoàn toàn hòa quyện với thiên nhiên, với trời đất mà tĩnh tâm hoặc trò chuyện hoặc ngẫm nghĩ sự đời. Đặt biệt sau những lần giặt cần, không cần biết có câu được cá hay không nhưng đó là niềm vui nho nhỏ khiến ta quên hết mọi phiền toái. Có thời gian, không biết phải vì lo toan nhiều về miếng cơm manh áo mà người ta quên mất cái thú vui đặc sắc này.Gần đây cuộc sống đã khá hơn thì trò giải trí này được khôi phục lại dưới dạng các câu lạc booh. Thời gian đầu các tụ điểm câu cá xuất hiện ở nội thành Hà Nội, sau đó lang rộng ra các vùng ngoại thành như Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn, Từ Liêm, Thanh Trì. Và nay do ảnh hưởng của cơ chế thị trường thú vui này không còn giữ được nếp xưa. Phần lớn hồ thả cá là phải thuê, do vậy các ông bà chủ kinh doanh nghề này phải toan tính chi ly xem nên thả loại cá nào cho rẽ, ăn ít mồi… Ngay dịch vụ cho thuê cần câu họ cũng “chém” với giá cắt cổ 40 ngàn đồng/giờ (cá câu được mang về) và từ 10-20 ngàn đồng/giờ (cá câu được phải mua) khiến không ít người đi câu lại thêm phần căng thẳng. Thậm chí có nơi biến câu lạc bộ thành nơi nhậu nhẹt, hẹn hò ròi cả dịch vụ “câu cá ôm”… Đối tượng đi câu cũng vô cùng đa dạng. Có người đi theo trào lưu là thấy thiên hạ đi, mình cũng đi, nhưng cũng có người đi câu để khoe sự giàu có của mình thông qua những chiếc cần câu được tính bằng ngoại tệ.
Thú câu cá ngày nay quả thật đã xa rời mục đích muốn tĩnh tâm, tìm thú vui giữa bốn bề sông nước nữa. Còn đâu cảnh “thông thả buông cần trút” như xưa. Làm sao để giữ gìn và phát triển được thú vui này theo đúng nghĩa tích cực của nó hiện đang là điều được mọi người quan tâm bởi câu cá không những là môn thể thao hấp dẫn mà không còn là cách thư giản đặt biệt nhiều thú tiêu khiển khác không có được.
Còn đó những nỗi lo
Trong những năm gần đây phim hoạt hình Việt Nam được ví nhưu một nàng công chúa đang ngủ quên trong rừng. Để đánh thức nàng công chúa này, cuối năm 2000, một cuộc họp bàn về tương lai của phim hoạt hình Việt Nam được tổ chức với sự góp mặt của đông đảo các nhà biên kịch và đạo diễn. Tiếp đó hãng phim hoạt hình Việt Nam thông báo sẽ thành lập một trung tâm văn hóa được điện ảnh thiếu nhi với mô hình hoạt động khép kính bao gồm việc chiếu phim kết hợp với tổ chức các chuyến tham quan các di tích, thắng cảnh của đất nước gắn với nội dung cụ thể mà phim đề cập.
Hãng đã khảo cứu thị hiếu của khán giả “nhí” bằng cách chiếu phục vụ miễn phí hàng loạt chương trình hoạt hình Việt Nam trong vòng 35 buổi và phát hành 10 băng hình về phim hoạt hình Việt Nam trong vòng 10 năm. Tất cả đã được đón nhận khá nồng nhiệt. Thế nhưng, từ đó đến nay, ý tưởng vẫn chỉ là ý tưởng. Nàng công chúa hoạt hình Việt Nam vẫn ngủ say.
Vì sao công chúa ngủ? Theo Ông Dặng Vũ Thảo, giám đốc hãng phim hoạt hình Việt Nam thì lý do là vướn kinh phí. Để có được một rạp chiếu mini như vậy cần khoảng 2 tỷ đồng. Nếu không tập trung đầu tư toàn bộ một lúc sẽ dẫn tới việc trang bị được cái này thì cái kia đã lạc hậu. Đó mới chỉ là cái “vỏ”, còn muốn có cái “ruột” tương xứng thì việc đầu tư cho đội ngũ làm phim, viết kịch bản, đạo diễn lẫn các phương tiện kĩ thuật… cũng là điều kiện hết sức quan trọng. Thời gian qua, không chỉ riêng hãng phim hoạt hình Việt Nam mà cả các đài truyền hình cũng rất yếu về mảng đề tài này. Trong khi các bật cha mẹ lo lắng trước sự đam mê của con trẻ với những siêu nhân, trò chơi điện tử ngoại nhập thì những câu chuyện như “từ thức gặp tiên”, “chữ đổng tử tiên dung”…, những tác phẩm mang ý nghĩa giáo dục lại ít được chú ý tới. Nhiều người không khỏi bân khoan rằng: có phải phim hoạt hình của ta đã tụt hậu so với nhu cầu thưởng thức của con trẻ?
Bích Ngọc -Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 41 (206) 2001

Gâu nuôi có sinh sản

Trên thực tế, nhu cầu sử dụng mật gấu là rất lớn. Câu hỏi được gợi lên là có thể nuôi gấu sinh sản để khia thấc như một thương phẩm được không. (Được biết trên thế giới, nhiều nước đã thành công trong việc nuôi gấu sinh sản như: Trung Quốc, Miến Điện,…) Ngoài những nơi như Lai Châu, Sơn La, Nghệ An…, được coi là những khu vực có nhiều gấu nuôi nhất thì ở Hà Nội và lân cận, số lượng nuôi gấu đang gia tăng đáng kể. Hà Nội có tới gần 1.000 con, Hà Tây cũng xấp xỉ 300 con…
Người ta thường ngộ nhận rằng gấu nuôi nhốt có thể sinh sản được. Thực ra, cho đến nay các công trình nghiên cứu của một số nhà khoa học đều khẳng định: Gấu Việt Nam nuôi nhốt (cho đến giờ) chưa sinh sản được. Ông Nguyễn Kim Linh, Giám đốc Trung tâm bò và đồng cỏ ba vì (Viện chăn nuôi quốc gia) cho biết: Năm 1996, Trung tâm nghiên cứu và nuôi thành công gấu sinh sản trong điều kiện bán tự nhiên. Một con gấu Myanmar đẻ 3 lứa được 5 con. Vấn đề ở chỗ đó là gấu Myanmar còn gấu Việt Nam có đẻ được hay không thì phải chờ. Hơn nữa, nuôi gấu đẻ rất khó bởi sự khắt khe về khẩu phần dinh dưỡng và điều kiện. Trong khi đó, các gia đình nuôi gấu lấy mật nhốt mỗi con một chuồng, làm sao sinh sản được.
Ông Linh khẳng định việc một số phương tiện thông tin đại chúng đưa tin có trường hợp nuôi gấu tại gia đình sinh sản thành công là “không đúng sự thật”. Con gấu ấy khi bị bắt từ rừng về đã có chửa nên nuôi một thời gian thì sinh sản.
Điều nàu giải thích vì sao một con gấu giá cả trăm triệu mà vẫn bị xẻ thịt đem bán. Các quán rượu T.H ở Hoàng Hoa Thám, quán cây Si – Yết Kiêu (Hà Nội)… đều có rượu tay gấu. Một người đàn bà tên Nga ở Thanh Xuân (Hà Nội) cho chúng tôi biết: Muốn mua tay gấu lúc nào ở chỗ chị ta cũng sẵn. Đây chính là những con gấu xấu số sau 2-3 năm không khai thác được mật nữa.
Lời kết
Gấu là loài thú nằm trong danh mục cấm khai thác và sử dụng (Nghị định 18/HĐBT ngày 17/1/1992) và cấm buôn bán quốc tế (phụ lục 1 công ước CITES). Nếu không có những biện pháp quản lý mạnh tay của các cơ quan hữu trách thì nguy cơ về sự tuyệt chủng loài gấu ở Việt Nam không phải là xa vời. Tuy nhiên chăm sóc sức khỏe cộng đồng cũng là một công việc hết sức quan trọng. Như đã nói ở trên, nhiều nước đã thành công khi nuôi gấu sinh sản. Vậy với gấu Việt Nam, tại sao không? Câu hỏi đó đang chờ các nhà chuyên môn giải đáp.
Nêu ưu tiên tay hay ta?
Ngày nay, nhiều công ty du lịch ghép đoàn với nhau để giảm chi phí. Và thế là Tây Ta có dịp gặp gỡ nhau đi du lịch cùng nhau hai hoặc ba ngày. u đó cũng là điều đáng mừng, đặc biệt là cho lớp trẻ vì có điều kiện giao tiếp hiểu biết…Đối với những hướng dẫn viên chúng tôi thì ai cũng như nhau, vì đều là khách, đều bỏ tiền như nhau có chi mà phân biệt. Chuyện người đến trước lên xe, lên tàu trước, khi phục vụ ăn có người trước người sau là chuyện đương nhiên, có gì phải bàn. Vậy mà nhiều khách Việt không hiểu, lại cho rằng nhất bên trọng nhất bên khinh, coi Tây hơn Ta. Lên xe sau không có ghế ngồi đằng trước cũng phàn nàn. Đến nhà hàng nhân viên mang đồ ăn cho khách Tây trước lại cho rằng mình bị coi là thứ yếu. Có khách lại đập bàn đập ghế quát hướng dẫn viên với những lời lẽ vô văn hóa “mày có biết tao là ai không?”, hay “mày coi chúng nó (khách nước ngoài) hơn bọn tao”…Nhiều người đi du lịch lại nghĩ rằng mình là ông vua, cứ bỏ tiền có quyền quát tháo. Họ quên mất rằng mỗi người đều có lòng tự trọng, những người làm trong ngành du lịch là những người phục vụ chứ không phải kẻ ăn người ở nhà họ.
Chuyện không thông cảm với hướng dẫn viên hay nhân viên phục vụ cũng có thể bỏ qua nhưng thái độ cố chấp, phân biệt của nhiều người thì không thể không bàn. Chúng ta là người Việt Nam, chúng ta không nói là cao thượng, nhưng phải chứng tỏ rằng chúng ta là chủ nhân của đất nước và nền văn hóa Việt Nam. Phải tỏ lòng mến khách thì dù có chịu thiệt thòi hơn một chút (đấy là giả sử) cũng có sao đâu! Thật đáng buồn là có tới 20% số khách du lịch ghép đoàn hiểu được điều này.
Hầu hết khách du lịch nước ngoài đến thăm Việt Nam bởi vì họ nghe nói rằng Việt Nam là một đất nước đẹp, có nền văn hóa độc đáo, con người Việt Nam thân thiệt, mến khách. Họ đến nhiều lắm là 1-2 tháng rồi đi, ít có người trở lại và thử nghĩ họ có mong muốn trở lại không khi họ biết có những người Việt Nam giữ trong mình suy nghĩ thiển cẩn như vậy.
Chúng ta vẫn nói muốn làm bạn với tất cả các nước. Muốn thế, xin hãy thân thiệt với những khách Tây bình thường kia đi đã.
Đỗ Đình Dũng -Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 41 (206) 2001