Kế hoạch chuyến du lịch vũ trụ đầu tiên năm 2002

Cho tới hôm nay khi nhiều người vẫn coi du lịch vào vũ trụ là điều mơ ước xa xôi thì một Công ty ở Mỹ đã bắt tay thực hiện với một kế hoạch đầu tư cho du lịch vũ trụ khổng lồ. Họ đã cho ra đời những tuyến du lịch vũ trụ ngay từ năm 1997 và dự kiến từ 3 tới 5 năm sau sẽ đưa người đi du lịch vũ trụ. Dưới đây là kế hoạch chuyến du lịch vũ trụ đầu tiên trong 7 ngày của Công ty du lịch Mỹ nổi tiếng ở Settle – công ty Zegrahm Space Voyages. Họ đã hợp tác với công ty Vela Techlogy Development lnc chuyên đóng tàu vũ trụ để thiết kế con tàu du lịch trong 7 ngày, dự kiến trong 7 năm 2002 đón tốp du lịch đầu tiên lên vũ trụ. Do du lịch vũ trụ khác trên mặt đất nên trong chương trình 7 ngày có 5 ngày đầu du khách được huấn luyện bay trong thiết bị mô phỏng để chịu được trạng thái không trọng lượng tạo điều kiện cho du khách hưởng thụ mọi điều kỳ thú trong quá trình bay. Sau 5 ngày chuẩn bị và huấn luyện, ngày cuối cùng là ngày quan trọng nhất bay vào vũ trụ. Lúc này chiếc tàu Space Cruiser sẽ đưa du khách xuyên qua tầng khí quển, đạt tới độ cao là 100 km được gọi là độ cao người vũ trụ theo tiêu chuẩn Mỹ. Tại đây du khách sẽ được hưởng trạng thái không trọng lượng trong 2 phút rưỡi và tận mắt ngắm nhìn trái đất từ trên vũ trụ. Với 2 phút rưỡi ngắn ngủi này bạn đã phải trả tới 98 nghìn đô la Mỹ, thật là một chuyến du lịch tốn kém nhất thế giới hiện nay. Tuy nhiên chi phí này ngoài bao quát cho toàn bộ chuyến đi với việc ăn, ở cùng sự thể nghiệm du lịch vũ trụ, Zegrahm còn sắp xếp người đưa đón bạn tới tận khách sạn một cách an toàn. Ngoài ra còn chi phí cho quần áo bay. Bạn sẽ được phát 2 bộ, một bộ dùng để khi huấn luyện và mặc trong khi bay vào vũ trụ, một bộ tặng bạn làm kỷ niệm chuyến đi. Tiếp đó trong ngày cuối cùng công ty còn có nhã ý mời bạn xơi bữa tiệc chia tay cùng với nhiều vật kỷ niệm bao gồm huy hiệu Astronaut Altitude Wings và một giấy chứng minh du lịch vũ trụ để bạn ghi nhớ mãi chuyến du lịch kỳ thú có một không hai này. Để đảm bảo chuyến bay an toàn, Zegrahm yêu cầu trẻ em dưới 16 tuổi không được tham gia. Du khách đăng ký cũng cần có chứng thực lành lặn, không có khuyết tật và tham gia kiểm tra sức khỏe bảo đảm thể trạng đáp ứng yêu cầu lên vũ trụ.
Phương pháp bay và tuyến đường
Công cụ giao thông sử dụng cho chuyến du lịch là tần vũ trụ “Space Cruiser” kết hợp cùng chiếc Space Lifter hình thành tổ hợp Space Cruiser System mỗi chuyến tàu chở được 6 hành khách và 2 phi công, bay trong 2.30 phút. Mỗi chỗ ngồi đều có cửa sổ để du khách ngắm cảnh vũ trụ.
Cất cánh cả 2 chiếc Space Cruiser và Space Lifter cùng kết hợp cất cánh. Tách nhau khi tới độ cao 60 km, Space Cruiser và Lifter tách khỏi nhau, khởi động máy của Space Cruiser để đưa lên độ cao là 100 km còn Space Lifter trở về trái đất.
Tăng tốc cho Space Cruiser.
Khi tới độ cao là 100 km du khách sẽ đượ hưởng 2,5 phút trạng thái không trọng lượng và ngắm nhìn trái đất từ trên vũ trụ.
Space Cruiser giảm tốc độ chuẩn bị trở về trái đất.
Xuyên qua tầng khí quyển, hạ cánh an toàn ở vị trí cũ.
Ngoài công ty Zegrahm, hiện nay tại Mỹ còn có công ty Space Adventures Inc cũng chuẩn bị lấy khách cho chuyến bay vào vũ trụ sau từ 3 đến 5 năm. Tuy nhiên hộ chưa đưa ra được ngày giờ cụ thể cho chuyến bay đầu tiên, song lại đã nhận tiền đặt cọc cho mỗi du khách là 6 nghìn đô la mỹ để khi có chuyến bay là được đi ngay. Space Adventures còn thành lập cả hội Steps To Space Astronaut Club để thực hiện dần kế hoạch du lịch vũ trụ. Sức hấp dẫn của hội là ở chỗ khi đã trở thành hội viên, hội sẽ cử một số cố vấn vũ trụ tới giúp đỡ bạn huấn luyện bay trong trạng thái không trọng lượng, giải đáp các thắc mắc về vũ trụ và giúp bạn chuẩn bị cụ thể cho chuyến bay sắp tới. Với những hạng mục phục vụ trên, Steps To Space Adventures Culb đòi hỏi bạn đóng khoản lệ phí cao là 25 nghìn đô la Mỹ khi vào hàng năm phải đóng tới 10 nghìn đô la Mỹ, khi có chuyến bay cụ thẻ bạn còn phải đống phí du lịch là 20 nghìn đô la Mỹ nưa. Khoản đóng góp này chỉ dành cho 100 người đầu tiên. Rõ ràng bạn có tiền cũng chưa chắc được đi du lịch vũ trụ nếu bạn chậm chân. Space Adventures sử dụng loại tàu vũ trụ Ascender, mỗi lần có thể chở được 4 hành khách.
Tu Duy -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (9+10+11+12)2000.

Năm 2000 du lịch Kon Tum có gì mới?

Trong một lần trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Tân Quyết, giám đốc Sở Thương mại – Du lịch Kon Tum khẳng định: “Kon Tum tuy không lớn mạnh về du lịch như các tỉnh khác, song Kon Tum có một sức hấp dẫn riêng đối với du khách muốn tìm hiểu về Tây Nguyên. Đây là vùng đất có tài nguyên thiên nhiên, môi trường phong phú, đa dạng có nền văn hóa các dân tộc rất đặc sắc và nhiều di tích lịch sử, khảo cổ quan trọng. Nếu biết khai thác có hiệu quả thế mạnh này, Du lịch Kon Tum sẽ có một diện mạo riêng”. Thật vậy, tuy vẫn còn một số hạn chế nhất định nhưng Du lịch Kon Tum mấy năm gần đây đã có những chuyến biến khá. Lượng khách du lịch đến Kom Tum ngày một nhiều hơn, doanh thu năm 1998, trên 4 tỷ đồng. Năm 1999 tuy chịu ảnh hưởng của nhiều lý do khách quan song nhịp độ tăng trưởng vẫn giữ được như năm 1998. Ngành Du lịch tỉnh Kom Tum đã biết tận dụng thế mạnh của địa phương để khai thác phục vụ khách du lịch, cơ sở vật chất bước đầu đã đáp ứng nhu cầu ăn nghỉ của du khách. Từ những kết quả của những năm trước, Chương trình hành động du lịch, năm 2000 của tình đã xác định sản phẩm du lịch chính của Kom Tum
Là du lịch văn hóa lễ hội các dân tộc du lịch sinh thái và du lịch chiến trường xưa. Để thực hiện chương trình này, ngay từ năm 1999, Công ty du lịch Kom Tum
Dã chọn làng Konkotu xã Đắc cơ va thị xã Kom Tum ngôi làng một nhà rông nguyên mẫu của bà con dân tộc Ba Na, cách thị xã Kom Tum không xa. Tại đây, Công ty đã đầu tư bước đầu 30 triệu đồng để xây dựng giếng nước, nhà tắm, nhà vệ sinh, mua sắm dụng cụ phục vụ khách nghỉ lại. Qua 1 năm đưa vào khai thác, tuyến du lịch văn hóa này đã trở thành một địa chỉ không thể thiếu của hầu hết khách du lịch quốc tế đến Kom Tum. Tại đây du khách được tham dự đốt lửa, xem biểu diễn cồng chiêng, uống rượu cần, ca múa với đông bào dân tộc. Nếu khách yêu cầu xem lễ hội đâm trâu thì phải tốn thêm tiền mua trâu, Công ty sẵn sàng phục vụ. Từ những tháng cuối năm 1999, Công ty đã đầu tư xây dựng cầu treo qua sông Đakbla dài 180 mét, dự kiến sẽ hoàn thành trong tháng 1 năm 2000 để kịp đưa vào khai thác trong dịp tết. Làng văn hóa Kon ko tu nằm gần sông, khách du lịch sau 1 ngày đi dạo trong rừng trở về làng về vượt sông bằng cây cầu treo sang bờ bên kia để tắm sông tại một bãi cát trắng tuyệt đẹp, tận hưởng bầu không khí thoáng đãng của đất trời Tây Nguyên trong ánh ráng chiều. Màn đêm buông xuống khách trở về nhà rông sinh hoạt cồng chiêng, vui chơi ca hát rồi ngủ tại nhà rông của làng. Đây là một tour rất hấp dẫn với du khách. Năm 2000 sẽ là năm du lịch Kom Tum có nhiều chuyển biến cơ bản sau khi đưa vào khai thác tuyến du lịch trên sông Đakbla. Công ty du lịch tỉnh đã đầu tư 500 triệu đồng để đóng mới 2 thuyền du lịch, xây dựng cầu ra sông, mua sắm trang thiết bị để phục vụ khách du lịch ngày từ tháng 1 năm 2000. Từ thị xã Kom Tum du khách xuống thuyền theo dòng Dakbl đi tham quan nhà máy thủy điện Yaly, thăm các ốc đảo lạ ngập nước trong lòng hồ, ghé thăm các lạng đồng bào dân tộc, thưởng thức ca nhạc cồng chiêng, uống rượu cần… trên tuyến này khách có thể thăm khu bảo tồn Chư moray, tham quan khu nàh mồ của làng Rắc một khu nhà mồ đẹp nhất còn được bảo vệ hiện nay, tham quan làng Lung Leng một di chỉ khảo cổ học vừa được khai quật trong năm qua. Có thể nói đây là sản phẩm du lịch chính của Kom Tum trong năm 2000 và những năm sau. Ngoài ra Kom Tum cũng là nơi còn nhiều di tích chiến tranh trong 2 cuộc kháng chiến cứu nước cũng rất thu hút khách như ngục Kom Tum, chiến trường Đắc Tô Tân Cảnh, Ngã ba Đông Dương, đường Hồ Chí Minh. Các kiến trúc tôn giáo như Tòa giám mục, nhà thờ gỗ Kom Tum… cũng luôn thu hút sự chú ý của khách du lịch. Anh Huỳnh Đức Tiến giám đốc Công ty Du lịch Kom Tum tâm sự: “Chúng tôi rất tin tưởng vào những dự án mà mình đang thực hiện. Trong thời gian tới, nếu dự án làng du lịch ven sông Dakbla được triển khai, sản phẩm du lịch của Kom Tum sẽ phong phú thêm. Và sau khi triển khai nâng cấp khách sạn Quang Trung thành khách sạn 2 sao, cùng với khách sạn Dakbla, sẽ bảo đảm cơ bản nhu cầu lưu trú của khách du lịch. Du lịch Kom Tum từ năm 2000, sẽ có những bước chuyển cơ bản. Kom Tum sẽ là một điểm đến quan trọng trong những chuyến du lịch của du khách mỗi dịp đến Tây Nguyên.
Vân Thiêng -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 5(109)2000.

Một ngày trên núi Bà Đen

Núi Bà Đen nằm cách thị xã Tây Ninh 15 km về phía đông bắc. Núi không cao lắm với 986 mét, nhưng trông thật hùng vĩ vì núi nằm trên một vùng đồi thấp hoặc lượn sóng tựa như núi Tam Đảo, núi Ba Vì nằm tiếp giáp với đồng bằng Bắc Bộ. Núi Bà Đen còn có nhiều tên gọi khác như núi Bà Đinh, núi Điện Bà, Linh Sơn. Đỉnh núi thường có mây che phủ nên người dân trong vùng còn gọi là Vân Sơn. Núi Bà Đen cấu tạo bởi đá hoa cương, một loại đá mắc ma ở sâu trong lòng đất, đi lên phía trên do sức ép kiến tạo của lớp vỏ trái đất. Đá hoa cương là loại đá rất cứng song khi ra khỏi mặt đất, do chịu ảnh hưởng của sự thay đổi nhiệt độ ngày, đêm và theo mùa mà bị vỡ nứt ra thành các khối, lớn như một gian phòng, một đống rơm, hoặc bằng một chiếc xe du lịch và to hơn nữa. Sau đó theo quy luật phong hóa của loại đá này (phong hóa đồng tâm) mà chúng biến thành các đá tảng không góc cạnh, mặt nhẵn nhụi.Vì lý do đó mà trên đường leo núi ta gặp vô số những tảng đá nằm rải rác ở bên đường, đôi khi tập trung lại thành các bãi đá, hòn nào cũng nhẵn nhụi tựa như những viên cuội khổng lồ. Do quy luật phong hóa riêng biệt của đá hoa cương mà núi Bà Đen có nhiều hang hốc. Trên đường lên chùa Linh Sơn, ở độ cao là 280 mét du khách bắt gặp một hang khá rộng. Song các hang ở đây lại không có thạch nhũ như ở các hang động đá vôi vì ở đây không có hiện tượng kết tủa các bô nát can – xi. Tài nguyên thiên nhiên trên núi Bà Đen khá phong phú. Nơi đây có đặc sản khá độc đáo, đó là món thằn lằn núi nổi tiếng mở ở các địa phương khác trong cả nước ta không nơi nào có Thằn lằn núi kiếm ăn trong suốt mùa mưa và đến đầu mùa khô chúng béo mập, tụ tập lại thành đàn rất đông trong các hang hốc của núi đá. Vì vậy cứ đến mùa khô, người dân ở quanh vùng rủ nhau lên núi Bà Đen câu thằn lằn. Ở quanh các hang hốc, nơi nào có nhiều vết trắng như vôi rải đều trên mặt đá là chắc chắn thằn lằn níu kéo về đồn ấn nấp. Người đi câu dùng mồi là sung hoặc mít, chuối chín, chà đều lên rồi ném vào hang. Một lúc sau nghe thấy tí tách, bộp bộp đó là lúc thằn lằn ngửi thấy mùi thơm và nhảy ra tranh nhau ăn. Lúc này người đi câu chỉ cần đưa cần câu có thòng lòng, tròng vào cổ từng con rồi nhấc lên. Mỗi buổi câu như vậy thường được 1 đến 2 kg đến 50 đến 100 con, người câu giỏi được tới 24 kg trong một ngày, mỗi kg giá khoảng trên dưới 20 nghìn đồng. Thằn lằn núi là món đặc sản hấp dẫn và chế biến ra các món như xào lăn, chiên giòn, băm nhỏ trộn với thịt ba dọi, thằn lằn ướp gia vị phơi khô rồi chiên giòn… Thằn lằn núi Bà Đen, bán rất chạy. Nhiều nhà hàng phải đặt cọc tiền trước mới mua nổi. Món đặc sản này còn xuất sang cả Trung Quốc, Campuchia. Vì vậy cứ đến mua khô, người đi câu trên núi Bà Đen rất đông và câu cả những con nhỏ. Thằn lằn núi sinh sản rất nhanh, nhưng hiện nay cũng đã thấy hiếm và có nguy cơ bị tuyệt chủng. Rừng trên núi Bà Đen có nhiều cây gỗ quý thuộc họ Dầu như Dầu rái, Dầu nước, Dầu lông, Dầu trà beng, Dầu chai, Sến cát, Cẩm liên… Núi Bà Đen nằm lọt trong một vùng quần cư khá đông đúc, kinh tế trù phú. Trên những dải đất đỏ Bazan là những nông trường cao su bạt nghìn. Đất đỏ Bazan là một loại đất tốt, tầng đất dày tới 10 đến 15 mét và rất phù hợp với việc trồng các cây công nghiệp. Ngoài cao su ra, người ta còn trồng hồ tiêu, cà phê. Ngoài đất Bazan, ở phía nam núi Bà Đen là dải đất phù sa cổ. Đất có màu xám, rất thuận lợi cho việc trồng các cây ăn quả. Núi Bà Đen còn là nơi du lịch đối với người dân các tỉnh lân cận như Sông Bé, Long An, Đồng Tháp… Ngay đối đối với thành phố Hồ Chí Minh mặc dầu cách xa tới 111 km, người ta vẫn rủ nhau lên núi Bà Đen vào ngày chủ nhật, sáng đi sớm và đến tối lại có mặt ở bữa ăn tối cùng gia đình. Họ rủ nhau lên núi để hít thở không khí trong lành và mát mẻ vì khi lên tới độ cao từ 400 đến 500 mét, không khí đã mát rượi, trong khi ở thành phố lại nóng như nung người. Ngoài ra, ở một độ cao nào đó trên núi Bà Đen, nhất là ở đỉnh núi, tầm mắt người ta có thể phóng nhìn rất xa khắp đồng bằng Nam Bộ, Tây Nguyên, Biển Đông và vịnh Thái Lan. Chính do vị trí lợi hại như vậy mà trước đây Mỹ đã xây dựng một trạm cơ sở thông tin và quan sát lớn. Mỹ ngụy quyết giữ đến cùng nhưng đã bị quân ta san bằng và chiếm lấy đỉnh núi. Vào những ngày 15 âm lịch hàng tháng, người dân trong vùng rủ nhau đi rất đông tới lễ ở chùa Linh Sơn. Người đi bộ, người đi xe máy, nườm nượp chen chúc nhau đi lên chùa. Có nhiều cụ già được con cháu dìu lên núi. Ngoài những người dân ở quanh vùng lại còn nhiều người ở xa, tận thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ… cũng tới lễ. Mặc dầu đường lên núi đã được lát đá thành bậc, song việc leo núi cũng vất vả. Hiện nay ta đã xây dựng hệ thống xe điện cáp treo trên không và đã hoàn thành đưa vào sử dụng từ đầu năm 1998. Du khách đi trên xe điện cáp treo vừa đỡ mệt, lại vừa được ngắm toàn cảnh núi non, sông nước quanh vùng.
Nguyễn Thái – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (9+10+11+12)2000.

Sức sống mới của Du lịch Đồng Tháp

Ngành du lịch Đồng Tháp trong một năm qua đã ngủ một giấc khá dài, và chìm trong cơn mộng án binh bất động. Nguyên nhân chính là suốt từ ngày 1 tháng 4 năm 1999 đến ngày 24 tháng 4 năm 2000 ngành Du lịch Đồng Tháp loay hoay với việc quyết định sự tồn tại của đơn vị kinh doanh trực tiếp: Công ty Du lịch và xuất nhập khẩu Đồng Tháp. Khách quan mà nói, quyết định giải thể Công ty Du lịch và xuất nhập khẩu Đồng Tháp trước đây, đặt ra cho ban lãnh đạo thẩm quyền ở tỉnh này nhiều điều trăn trở và nan giải. Nhưng cuối cùng cái gì đến ắt phải đến, và hậu quả của nó cũng không thể tránh được. Tóm lại không có gì để bàn cãi khi cơ ngơi của đơn vị này đã bị khánh kiệt. Có điều nếu nhìn sự nghiệp của một ngành ở địa phương thì vẫn có chuyện để mà ngẫm ngợi. Đó là việc để kéo dài tới một năm cảnh cửa đóng then cài, dậu đổ bìm leo hoang vắng. Gần 100 anh em tập thể Cán bộ công nhân viên Công ty đã từng gắn bó với đơn vị trong suốt thời gian dài, giờ đây chỉ còn biết nuối tiếc, mong ước nhỏ nhoi biết bao giờ trở lại chốn xưa, nơi mà họ đã một thời say mê vun đắp. Còn nữa những du khách và những bạn hàng trước đây cũng không tránh khỏi sự ngỡ ngàng trong bơ vơ. Trong bối cảnh đó, sự ra đời của Công ty Du lịch Đồng Tháp vào tháng 4 năm 2000, không chỉ là sự hồi sinh mà thực sự là một tin vui, là tín hiệu xanh đưa ngành du lịc Đồng Tháp cất cánh. So với bối cảnh và xu hướng của ngành Du lịch Việt Nam hiện nay, Du lịch Đồng Tháp có hơi chậm, nhưng không có nghĩa là muộn màng, vì đây Du lịch Đồng Tháp cần phấn đấu hơn nữa, bù lại khoảng trống một năm qua bị dâm chân đứng lại. Quyết định thành lập Công ty Du lịch Đồng Tháp của các cấp thẩm quyền tỉnh Đồng Tháp trong thời gian vừa qua là một điều hoàn toàn đúng đắng và đáng khích lệ vì đã sớm xác định, nhận rõ vai trò và trách nhiệm của mình trên tinh thần chủ động thực hiện định hướng của Đảng chủ trương của Nhà nước phát triển du lịch ở Đồng Tháp. Từ tin vui trên, tin chắc rằng những địa danh tham quan ở Đồng Tháp như: Rừng Xẻo Quit tràm chim Tam Nông, khu vườn hồng Sa Đéc, Gò Tháp Mười, Lăng Cụ Phó Bảng… Đặc biệt du lịch dã ngoại trên sóng nước Đồng Tháp cũng sẽ sinh động, khởi sắc hơn bởi lẽ thiên nhiên không thể thiếu con người và ngược lại.
Đính chính
Báo Du lịch số 34 ra ngày 23 tháng 6 năm 2000, bài Tiền đề hiện đại hóa công tác đào tạo nghiệp vụ khách sạn, trang 5, cột 4, dòng 4 trên xuống, xin sửa lại là “Với số tiền tài trợ là 120 triệu LuF…” Thành thật xin lỗi Ban quản lý Dự án và bạn đọc.
Thúy Chiều -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (35(139))2000.

Thị trường vàng trắng trên thế giới lại sôi động

Vàng trắng trên thế giới không những chỉ là ngà voi mà còn nhiều loại khác:
Loại mam út: Hàng triệu cặp ngà mamut còn bị vùi dưới các lớp băng tuyết ở miền Bắc Xiberi. Người Nga khai thác những cặp sừng mamut bằng cách sưởi nóng cho băng và tuyết tan. Vào thời băng hạ đệ tứ, cách nay là 13 nghìn năm, vùng Xiberi lạnh đi hàng triệu con mamut bị chết và bị vùi lấp trong băng tuyết. Ngày nay các nhà thám hiểm còn dùng thịt những con mamut để nuôi chó. Mamut là một loại voi lớn, mình phủ đầy lông và có những chiếc ngà cong dài tới trên dưới một mét.
Loại móc xơ. Con móc xơ là một loại động vật có vú, sống dưới biển. Cho hết thế kỷ 19 người Nhật khai thác răng những con móc xơ để làm đồ mỹ nghệ. Ngày nay việc khai thác này đã bị cấm.
Loại cá nhà táng những người săn cá voi thường lợi dụng thời gian nhà rỗi để gọt, mài, khảm các răng cá nhà táng để làm các vật gia dụng và mỹ nghệ như con lăn nhào bột làm bánh, khuôn bánh ga tô, tượng phụ nữ. Mặt hàng này bán rất chạy ở u – Mỹ. Nhiều nhà sưu tập ưa chuộng mặt hàng này.
Loại hải cẩu: Răng hải cẩu là một loại ngà có hạt nhỏ hơn ngà voi. Việc khai thác răng hải cẩu, hiện nay đã bị cấm.
Loại sư tử biển: Đôi ngà sư tử biển dùng làm vật trang trí vì vẻ đẹp của chúng. Loại lợn rừng: Đôi ranh nanh của lợn rừng dùng chuôi dao và nhiều đồ mỹ nghệ khác. Việc khai thác răng lợn rừng không bị cấm. Như vậy vàng trắng có nhiều loại. Tuy nhiên loại phổ biến nhất vẫn là ngà voi. Vào nửa cuối thế kỷ 19, người ta đua nhau tới châu Phi để mua bán ngà voi và săn bắn voi. Con số sau đây cho thấy cường độ tàn sát voi trong những thập kỷ qua. Năm 1979, đàn voi châu Phi có 1,3 triệu con. Đến năm 1993 còn 600 nghìn con. Tới năm 1999, chỉ còn 268.344 con. Để bảo vệ đàn voi châu Phi, một hội nghị quốc tế gồm các nhà sinh thái học đã ra quyết định năm 1989 cấm buôn bán ngà voi trên thế giới. Quyết định trên đã được các nước châu u, châu Mỹ nhiệt liệt hưởng ứng và thị trường buôn bán vàng trắng ở cá quốc gia giảm rõ rệt. Riêng ở Pháp, các nhà sinh thái môi trường đã vận động lấy 360 nghìn chữ ký, đề nghị nhà nước nghiêm cấm việc buôn bán ngà voi. Ông Philip Ragon một chủ cửa hiệu buôn bán ngà voi kể rằng: Do cuộc vận động bảo vệ loài voi nên cửa hiệu của tôi đã bị ném đá và họ coi tôi là đồng phạm của những người độc ác đã tàn sát loài voi. Tuy nhiên việc mua bán ngà voi vẫn bí mật tiếp diễn và mỗi năm chỉ tiêu thụ được 1500 kg so với trữ lượng tồn kho ở Pháp lúc đó còn tới 80 nghìn kg số lượng này tồn đọng từ thời Pháp còn có những thuộc địa ở châu Phi. Và như vậy với mức tiêu thụ là 1.500 kg cho một năm thì phải mất 50 năm nữa mới hết trữ lượng ngà voi tồn đọng trên đất nước Pháp. Việc cấm buôn bán ngà voi trên thế giới đã kéo dài được ngót là 10 năm thì đến tháng 6 năm 1997, các nhà khoa học của 138 nước lại quyết định cho phép ba nước châu phi là Bốt – xoa – na, Namibia, Dimbabue được phép xuất khẩu ngà voi vì lý do đàn voi của ba quốc gia trên tăng lên khá nhanh. Theo ông đại sứ Dimbabue ở Pháp thì đàn voi ở nước ông hiện nay lên tới gần 700 nghìn gấp hai lần mức chịu đựng của môi trường sinh thái. Hiện nay mỗi năm có tới 3 nghìn voi con ra đời. Voi tăng lên ngày càng nhiều cùng với dân số ở Dimbabue trong 50 năm qua cũng tăng lên gấp 3 lần. Trong 20 năm tới dân số sẽ còn tăng gấp 2 lần so với hiện nay, thành thử gữa voi và người đang có cuộc cạnh tranh sinh tồn rất gay gắt. Một con voi mỗi ngày cần tới 150 kg cỏ, lá cây. Chúng đi tới đâu thì thiên nhiên ở đó bị tàn phá, ảnh hưởng tới lãnh địa sinh tồn của các loài thú khác chính vì lý do trên mà hội nghị quốc tế về sinh thái môi trường đã cho phép riêng ba nước ở châu Phi được xuất khẩu ngà voi, lấy số tiền này để tu bổ và chăm sóc các vườn quốc gia ở châu phi. Với sự cho phép trên, tháng 4 năm 1999 vừa qua, một lô hàng là 59,1 tấn ngà voi đã từ châu Phi xuất sang Nhật Bản với giá là 30 triệu France tương đương với 5 triệu đô la Mỹ. Cuộc mua bán này được quốc tế cộng nhận và ghi nhận rằng số ngà voi là 59,1 tấn là sự góp mặt của nhiều năm chứ không phải là do hạ sát hàng loạt đàn voi hiện có. Tuy nhiên, từ khi có lệnh mới cho phép ba nước châu Phi xuất ngà voi thì việc tàn sát voi lại gia tăng ở tất cả các nước khác thuộc châu Phi. Các thợ săn trộm voi tàn sát voi hàng loạt. Việc buôn lậu ngà voi cũng rộ lên. Người ta đã bắt được một nhà ngoại giao Hàn Quốc buôn lậu 600 kg ngà voi chất trong 15 va li. Các nhà sinh thái học hiện nay đang đau đầu và lo cho đàn voi châu Phi có nguy cơ bị tiệt chủng.
Lê Trọng Túc – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (3(107))2000.

Phước Kiều, làng đúc đồng Quảng Nam nổi tiếng

Đi dọc quốc lộ 1A qua làng Phước Kiều Quảng Nam, bao giờ ta cũng gặp chừng 20 điểm bán đồ đồng mới tinh, bày tràn ra cả đường nhựa, sáng chói. Đủ các thứ đồ đồng như chuông, lư, đinh, tam sự, ngũ sự… Đặc biệt nhiều hơn cả là làng chiêng và cồng. Một lần tôi đã xuống xe đò dừng lại để ngắm cho sướng mắt. Đây chính là địa phân làng Phước Kiều, làn đúc đồ đồng nổi tiếng từ xưa. Chỗ bán ở ngoài đường, còn trong làng mới là lò đúc đồng. Bây giờ đồ đồng đắt khách vì người ta thích thờ tự theo kiểu xưa. Các loại chiêng rất được người dân tộc, thậm chí người Tây du lịch thích thú. Làng Phước Kiều có nghề đúc đồng từ mấy trăm năm trước, từ thời Hội An là thương cảng buôn bán quốc tế lớn. Các vua thời Nguyễn đã điều động thợ Phước Kiều ra Huế cùng với thợ Phường Đúc đúc các vũ khí, đồ dùng, đồ thờ cúng như chuông, các bô lư và binh lễ, lò trầm, cây đèn, lọ hoa, các đồ mỹ nghệ tinh xảo chọ theo mẫu Trung Quốc như đỉnh, cốc, nồi, bình vôi, ly… Đặc biệt là các loại chiêng, cồng làm nên âm thanh nền văn hóa đặc trưng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đều được người thợ Phước Kiều đúc nên. Cồng là loại nhạc cụ có núm, chiêng không có núm. Chiêng để đi giai điệu cồng để giữ nhịp. Các bộ lạc, bản làng hay gia đình các dân tộc Tây Nguyên đều đi đặt đúc những bộ cồng chiêng cho mình, mỗi bộ ba, bốn hay sáu chiêng, 3 cồng hoặc nhiều hơn. Cồng chiêng coi như vật gia bảo, hàng chục trâu không đổi. Khi có lễ hội như Tết đâm trâu, lễ cơm mới, bỏ mả. … người Tây Nguyên mới tấu lên nhạc cồng chiêng. Người thợ Phước Kiều được đặt hàng nhiều cồng chiêng là do họ chế tạo cồng chiêng đúng âm thanh mà gia chủ đặt các chiêng trong một bộ âm thanh phải cùng giọng mới hòa nhau được. Nhiều vùng miền núi như A Sao, A Lưới – Thừa Thiên Huế, Trà My, Hiên, giằng – Quảng Nam, Trà Bồng – Quảng Ngãi… đồng bào các dân tộc Tà Ôi, Cà Tu, Vân Kiều… cũng lặn lôi đến Phước Kiều đặt làm chiêng, cồng. Nhiều nhà thờ họ người kinh cũng đi Phước Kiều mua chiêng dùng trong tế lễ, đám ma… Chiêng Phước Kiều sở dĩ ăn khách là bởi tiếng vang đặc sắc của nói, người dân gọi nôm na là tiếng thụng oang. Có nghĩa là khi gõ dùi vào chiêng ta nghe tiếng chiêng vang lên dài dài gọi là tiếng thụng, sau đó chiêng bỗng tự động phát ra âm khác cao hơn, vang hơn như lay gọi, như tiếng vọng (tiếng oang). Bí quyết để làm nên âm thanh “thụng oang” trong một lần gõ ấy là bí mật gia truyền, chỉ có người Phước Kiều mới biết. Các lò đúc đồng Phước Kiều sản xuất bằng thủ công gồm các thứ khuôn (khuôn ngoài và khuôn trong cốt). Khuôn được nung trong lò nung. Sau khi được khuôn rồi, đồng nấu lỏng, thêm các chất phụ gia kỹ thuật sau đó rót vào khuôn đúc. Tiếp theo là dũa mài, gõ, làm bóng để cho sản phẩm đẹp, nếu là chiêng thì âm thanh phải đúng âm Phước Kiều. Một làng nghề từ mấy trăm năm vẫn tấp nập đắt khách quả là quý giá.
Ngô Minh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (3(107))2000.

Người bạn tốt nhất của phụ nữ

Nếu có một vật gì đó làm mắt các cô gái phải ánh lên thì đó chính là Kim cương càng to càng tốt. Tuần trước ở Luân Đôn công ty Kim cương Nam Phi – De Beers đã trưng bày viên kim cương mang tên “Ngôi sao của thiên niên kỷ” 203 cara tinh khiết, cùng với một bộ sưu tập gồm 11 viên kim cương màu xanh quý hiếm với tổng số cara là 116. Bộ sưu tập này sẽ được trưng bày ở Millenium Dome, Luân Đôn trong vòng một năm. Người ta phát hiện viên kim cương này ở Zaire bây giờ là nước cộng hòa dân chủ Công Gò, vào đầu những năm 1990. Các chuyên gia đã xem xét rất kỹ viên kim cương này trong sáu tháng và sau đó các thợ kim hoàn châu u, Mỹ, Nam Phi đã cắt và đánh bóng nó đến độ sáng ngày nay. Nam Phi là nơi người ta đã tìm thấy một số loại đá quý nhất thế giới. Viên Kim cương lớn nhất được tìm thấy đó là viên kim cương Cullian 3,106 cara được phát hiện vào năm 1905 và sau đó nó đã được dâng lên vua Edward II. Nó được cắt thành chín viên to và khoảng 100 viên nhỏ hơn. Người ta đã ghép hai viên to nhất trong chín viên này lại với nhau và nó trở thành biểu trưng của nền quân chủ Anh Quốc, cùng với viên Ngôi sao châu phi là 503 cara trên vương trượng Hoàng gia và Cullian II 317 Cara nổi bật trên vương miện mà Nữ hoàng Elizabth thường đội vào các dịp khai mạc Quốc hội. Lẽ dĩ nhiên, “Ngôi sao của thiên niên kỷ” sẽ không thể lẫn với những loại đá quý nhân tạo như Moissanite, loại đá mà bề mặt và cấu trúc của nó giống với những loại đất đá thật đến nỗi một số thợ kim hoàn dã bị lừa mua phải những loại đá có giá trị bằng 1 phần 10 số tiền mà họ trả. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là người ta sẽ coi khinh loại đá này vì giá trị của nói vẫn tương đương với giá trị của những viên kim cương nhỏ Cullian.
Thế nào là cây bonsai đẹp
Ngày nay số người thích chơi bon sai ngày càng nhiều. Để có được một cây bon sai bổ sung vào quần thể hoa cảnh trong khuôn viên của mình cần có một số kiến thức hiểu biết về nó như sau: Các loại cây cảnh bon sai đều phải là những thân gỗ lâu năm, dáng lùn nhưng vẫn phải đồng dạng phối cảnh với những cây cùng tuổi mọc trong điều kiện tự nhiên. Những cây bon sai thường có gốc mập mạp thân hình bút tháp vuốt đầu về phía ngọn, cành gần gốc to hơn cảnh phía trên, càng gần ngọn càng nhỏ dần giống như phân bố trong điều kiện tự nhiên. Lá phải nhỏ, phiến lá càng dày càng tốt và bám chắc lấy cành, dáng vẻ cằn cỗi nhưng màu phải xanh tươi, các chồi ngọn không được sinh trưởng tự nhiên quá dài so với chiều cao của thân trừ thế thác đổ. Hoa quả phải nhỏ, càng lâu rụng càng tốt để đảm bảo tỉ lệ cân đối với cây. Cuối cùng là không bị sâu bệnh phá hoại. Nếu cây nào bị sâu đục thân sẽ suy giảm sức chống chịu với những diễn biến bất lợi của môi trường.
Kim Dung -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (17(121))2000.

Thất bị của một kế hoạch kinh tế phiêu lưu

Ngày 21 tháng 1 năm 2000, Tổng thống Jamil Mahuat của quốc gia nhỏ bé vùng Trung Mỹ – Equador bị phế truất, sau khi quân đội và những thổ dân da đỏ tiến chiếm trụ sở quốc hội và gây áp lực buộc ông Jamil Mahuat phải ra đi. Đây là kết quả của một cuộc thử nghiệm sai lầm lớn về kinh tế của ông Jamil Mahuat, đẩy đất nước này vào một cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng. Jamil Mahuat làm tổng thống từ ngày 10 tháng 8 năm 1988 sau thắng lợi trong một cuộc bầu cử trước nhiệm kỳ sau khi nguyên tổng thống Abdala Alarcon phải từ chức vì tham nhũng. Hành động đầu tiên của Tổng thống Jamil Mahuat về kinh tế là quyết định ngày 24 tháng 9 năm 1998 giảm 15% giá đồng tiền quốc gia đồng Sucre so với đồng đô la mỹ, tăng giá nhiên liệu lên 410% và giá cước vận tải lên 40% nhằm bù đắp các khoản hút thiếu hụt ngân sách. Quyết định của tổng thống đã tạo ra làn sóng phản đối trên phạm vi cả nước và cuộc tổng bãi công nổ ra ngày 1 tháng 10 năm 1998. Kể từ khi phá giá đồng Sucre, đến cuối năm 1998 đồng tiền này đã mất giá 58% và đến tháng 2 năm 1999 đồng tiền này hoàn toàn bị thả nổi. Chỉ trong một năm cầm quyền của ông Jamil Mahuat, thu nhập bình quân của người dân nước có 12,4 triệu dân này giảm 16%. Cũng trong thời gian này, Equador bị mất mùa nhiều loại nông sản chính do hiện tượng thời tiết El Nino. Kết thúc năm 1999, nền kinh tế trở nên tồi tệ chưa từng có với tỷ lệ lạm phát cả năm là 61%, đồng Sucre giảm giá là 197% so với đồng đô la Mỹ. Chính ông Jamil Mahuat đã gọi năm 1999 là năm tồi tệ nhất trong lịch sử của Equador. Trước Equador, các đồng tiền của Mexico của nhiều nước châu Á đồng Real của Brazil đã bị mất giá. Nhưng các quốc gia này có biện pháp tổng thể về kinh tế tài chính nhằm đưa nền kinh tế vượt qua khủng hoảng. Kết quả là Mexico vượt qua cuộc khủng hoảng năm 1994 – 1995 chỉ trong 13 tháng và hầu hết các nền kinh tế châu bắt đầu giai đoạn phục hồi sau gần 2 năm bị khủng hoảng, của Brazil vượt thoát sau 1 năm… những kinh nghiệm lớn đã không được tổng thống Jamil Mahuat và chính do ông này thao túng học tập mà lại làm một cuộc thử nghiệm thật phiêu lưu là hủy bỏ đồng tiền của mình, tiến hành việc đô la Mỹ hóa nền kinh tế với việc coi đồng Đô la Mỹ là đồng tiền chính của đất nước. Ngày 7 tháng 1 năm 2000 Tổng thống Jamil Mahuat tuyên bố chính thức đồng đô la Mỹ hóa ở Equador khi tỷ giá chính thức là 25 nghìn Sucre đổi 1 đô la Mỹ. Ba ngày sau ngân hàng trung ương Equador bắt đầu thực hiện kế hoạch đô la Mỹ hóa trong giao dịch và thanh toán. Việc đô la Mỹ hóa nền kinh tế đã làm cho người lao động và những người thuộc tầng lớp dưới đặc biệt là thổ đân da đỏ bị thua thiệt nhiều nhất khi thu nhập bình quân của họ chưa đến 30 đô la Mỹ cho một tháng. Đây chính là ngòi nổ của các cuộc biểu tình tổng bãi công ở quy mô toàn quốc trong những ngày đầu năm 2000 mà đỉnh cao là ngày 21 tháng 1 năm 2000 ở thủ đô Quito đưa đến sự ra đi của tổng thống Jamil Mahuat. Ngày 21 tháng 1 với đa số áp đảo 90 trên 99, quốc hội nước này đã thông qua việc chấp nhận ông Gustavo Noboa, nguyên phó tổng thống làm tổng thống Equador. Hầu hết các nhà phân tích đều cho rằng thất bại của cuộc phiêu lưu thử nghiệm về kinh tế là nguyên nhân của kết cục đáng buồn với ông Jamil Mahuat. Trước Equador, một số nước Mỹ la tinh đã tiến hành đô la Mỹ hóa từng phần nền kinh tế của mình như Colombia, Venezuela, nhưng kết quả là đã không giúp được các nước này nhanh chóng khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế. Năm 1998, ở lục địa Mỹ la tinh, nhiều nước đã lâm vào khủng hoảng suy thoái, nhưng trầm trọng nhất là Brazil nền kinh tế lớn nhất châu lục này. Nhưng chính các biện pháp củng cố đồng tiền quốc gia đồng tiền Real đã giúp cho Brazil nhanh chóng vượt ra khỏi khủng hoảng. Trong khi các nước láng giềng tiến hành đô la Mỹ hóa lại luôn lúng túng trong mớ bùng nhùng về tỷ giá và thanh toán. Những bài học cận kề này đã không giúp mở mắt cho ông Jamil Mahuat. Mà trái lại kết cục của ông Jamil Mahuat sẽ là bài học không thể quên cho các ý định đô la Mỹ hóa hay các chương trình kinh tế phiêu lưu khác.
Nguyễn Duy -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (19(123))2000.

Tháng ba nhớ hội chùa thầy

Nhớ ngày mồng bảy tháng ba
Trở vào hội Láng, trở ra hội Thầy
Hàng năm, cứ đến ngày 7 tháng 3 âm lịch là các thiện tín và du khách thập phương lại tấp nập về cự hội chùa Thầy. Trong không khí ấm áp của những ngày xuân, chúng tôi về để hòa vào không khí đón mừng lễ hội của người dân nơi đây. Không phải ngẫu nhiên mà nơi đây được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử cách mạng danh thắng từ năm 1962 trong số hàng trăm ngôi chùa hiện có tại Hà Tây. Cách Hà Nội chưa đầy 25 km về phía tây nam, chùa Thầy còn có tên gọi là Thiên Phúc Tự. Đây là nơi lưu dấu tu hành của một vị cao Tăng Đời Lý – Thiền sư Từ Đạo Hạnh, ngoài việc tu hành cao tăng còn làm thuốc cứu người, tổ chức cho dân những trò chơi như đá cầu, đánh vật, múa rối nước…. Theo thuyết phong thủy thì núi Sài là con rồng lẻ đàn – quái long, sân là lưỡi rồng, Thủy Đình là ngọc, còn xung quanh là thập lục kì sơn quy phượng chầu về. Trước chùa là một hồ nước rộng còn gọi là Long Trì, giữa hồ là thủy Đình nơi biểu diễn trò múa rối nước trong ngày hội. Tại đây có hai cầu này do Trạng Bùng – Phùng Khắc Khoan xây dựng cung tiến vào năm 1602 sau khi đi sứ nhà Minh về. Đối diện với Thủy Đình là chùa Cả mà nhân dân vẫn quen gọi là Thầy, chùa bao gồm ba cấp (Thượng, Trung và Hạ). Toàn khu chính diện của chùa là một khuôn viên hình chữ nhật dài khoảng 60 mét và rộng khoảng 40 mét. Chùa cả, ban giữa là tượng Di Đà tam tôn ở trên cao có bức hoành phi có bốn chữ “Hương hải lưu hương” có nghĩa là Biển thơm lưu tiếng tốt”. Ở dưới là bệ đá trăm hoa (còn gọi là bách hoa đài) tạc thờ Trần, trên đó để sắc lịch triều tôn phong của Thiền sư Từ Đạo Hạnh tượng Thiền sư thập định trên tòa sen vàng. Bên tả là tượng gỗ toàn thân được đặt trong cỗ long đình làm từ thời nhà Mạc. Từ xưa tượng đã có hệ thống lò xo tự động có thể đứng lên ngồi xuống như một con rối. Đây là một tác phẩm nghệ thuật có giá trị người nghệ nhân xưa khi thực hiện đã liên tưởng tới vị tổ sư múa rối nước. Bên hữu là tượng vua Lý Thần Tông được tạc vào năm Thái Hòa – 1499 thời Lê Nhân Tông. Phần mái của chùa được lợp bằng một thư ngói cổ dài 42 cm, rộng 22 cm có mũi hài cao 15 cm. Rời chùa Cả qua Nguyệt Tiên Kiều du khách vào cổng Bát nhị pháp môn để lên núi. Khi đến lưng chừng núi sẽ gặp chùa Cao (Hiển Thụy Am) với Hang Thánh Hóa, nơi Thiền sư Từ Đạo Hạnh giải thi thoát xác, để đầu thai làm vua Lý Thần Tông. Đây là động nhỏ hẹp, lờ mờ vẻ huyền bí, nhìn kĩ vào vách hang ta thấy những vệt lõm ở vách đá. Đó vết đấu, vết chần và vết tay mà Thiền sư tì vào lúc thoát xác. Phía trong hang có mạch nước chảy ở khe đá xuống qua miệng một con rồng đắp nổi vào một bể nước trong suốt. Tới thăm chùa thầy du khách được hưởng thú leo núi vừa cheo leo hiểm trở vừa thú, vị bởi phong cảnh hữu tình. Leo tiếp lên núi, nơi đây có một bãi đất phẳng phiu, xung quanh là những mỏn đá trông giống như chiếc bàn, chiếc ghế, bầu rượu túi thơ đó là chợ Trời. Lại theo đường mòn chùa Cao, đi vòng phía sau qua lối rẽ tới hang Cắc Cớ. Đến đây ta chợt nhớ tới nữ sĩ Hồ Xuân Hương với bài thơ Vịnh hang Cắc Cớ.
Trời đất sinh ra đá một chòm
Nứt làm đôi mảnh hỏm hom hom…
Từ hang Cắc Cớ men theo sườn núi lên đến đền Thượng, nơi thờ thánh Văn Xương, nơi hội họp của Đông Kinh Nghĩa Thục xưa kia. Cách đó không xa là Hang Hút gió, trống cả hai đầu quanh năm gió lùa. Đây cũng là nơi ngắm cảnh làm thơ của bao văn nhân tài tử. Sau cùng du khách đến chùa Bối Am, tục gọi là chùa Một Mái vì chùa chỉ có một mái dựa vào vách núi. Nơi này Bác Hồ đã từng sống và làm việc thời kháng chiến. Về đến chùa Thầy, ta thấy cõi, lòng như lắng xuống, thả bay trong những lo toan trần tục của chốn đời thường thấy như tâm hồn được thanh thản hơn lên. Người dân xã Sài Sơn kể lại rằng: Mỗi năm đến hội họ lại được thấy vị tổ sư đại từ đại bi ẩn khuất đâu đây. Tiếng của Người trầm ấm ban phát phúc lộ cho mọi người. Có lẽ vì thế mà cuộc sống, sự học hành ở nơi đây khác hẳn nhiều nơi khác trong vùng. Chính nơi đây đã sản sinh ra dòng họ Phan Huy một dòng họ thi thư nổi tiếng cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19. Chính tại nhà thơ của dòng họ Phan Huy Chú đã viết: “Lịch triều hiến chương loại chí”. Và có lẽ sự linh thiêng đó mà trải qua gần 1000 năm, ngôi chùa vẫn hiên ngang bấp chấp cả sự tàn phá của thời gian. Đến chùa Thầy, du khách có thể dừng chân thăm đền Quan Thánh, chùa Hoa Phát, chùa Khánh Tân, đền Tam Xã, đình Đa Phúc… Nhà thờ dòng họ Phan Huy. Như vậy chùa Thầy không những là một quần thể di tích lịch sử, di tích cách mạng, một công trình kiến trúc cổ có giá trị được bảo tồn, mà còn là một thắng cảnh du lịch hấp dẫn được thiên nhiên ưu đãi cho con người và vùng đất Phủ Quốc. Nói như một nhà thơ: “Đây là cái đẹp độc đáo của vùng bán sơn địa, tưởng như cái gân guốc của núi Tản Viên theo mạch mà vào làng Thầy”. Trong tương lai mảnh đất địa linh nhân kiệt này sẽ đón được nhiều du khách thập phương hơn nữa.
Vũ Hương Sen -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (23(127))2000.

Phát triển du lịch theo hướng đa dạng hóa

LTS: Doanh thu hàng năm từ các hoạt động du lịch của tỉnh Nam Định ngày càng tăng. Tỉnh đang phấn đấu đến năm 2005 con số này sẽ đạt từ 150 đến 200 tỷ đồng. Ngành du lịch đang dần dần trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh.
Phóng viên: Xin ông cho biết đôi nét về tiềm năng du lịch của tỉnh nhà?
Ông Nguyễn Văn Khanh: Nam Định là tỉnh nằm ở phía Nam châu thổ sông Hồng, cách thủ đô Hà Nội 90 km, về phía Nam, có diện tích 1.071,6 km vuông với dân số gần 2 triệu người. Nam Định có mạng lưới giao thông gồm cả đường bộ và đường thủy, có 45 km đường sắt xuyên Việt chạy qua và 72 km đường biển. Nam Định có tiềm năng du lịch rất phong phú. Nơi đây không chỉ có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp như bãi tắm Thịnh Long (huyện Hải Hậu), Quyết Lâm – huyện Giao Thủy, làng hoa Điền Xá… mà còn là nơi tập trung nhiều di tích lịch sử văn hóa. Từ đình Thượng Đông Yên Tiên – Ý Yên, nơi Bác Hồ năm xưa về thăm, đến chùa Keo Hành Thiện (Xuân Trường), cầu Ngói Chợ Lương (Hải Hậu) và đặc biệt là khu di tích đền Trần – Chùa Tháp, Phủ Dầy (thuộc ngoại thành Nam Định). Điều lý tưởng là tài nguyên du lịch của tỉnh được phân bố tương đối tập trung, tạo điều kiện thuận lợi để hình thành những tour du lịch độc lập, hoặc kết hợp với các tỉnh lân cận để hình thành các tour du lịch liên tỉnh như: quần thể di tích hành cung Thiên Trương (đền Trần, chùa Tháp, đền Bảo Lộc), quần thể Phủ Dầy, quần thể nhà thờ, nhà chùa, khu bảo tồn thiên nhiên Cồn Lu, Cồn Ngạn, bãi tắm biển Giao Lâm, và Hải Thịnh… Từ Nam Định, du khách có thể tiếp tục tour du lịch của mình đến những điểm du lịch ở các tỉnh khác rất thuận tiện như đến với khu du lịch Tâm Cốc, Bích Động, khu du lịch Trường Yên – Ninh Bình hoặc Ngũ Động, Thi Sơn – Hà Nam… Khách du lịch đến Nam Định ngày một đông và năm sau tăng hơn so với năm trước. Doanh thu từ các hoạt động du lịch đạt hàng chục tỷ đồng mỗi năm. Tỉnh đang phấn đấu đến năm 2005, doanh thu đạt từ 150 đến 200 tỷ đồng.
Phóng viên: Để thực hiện tốt 6 chương trình quốc gia về du lịch và các sự kiện du lịch năm 2000, tỉnh có những chủ trương và kế hoạch cụ thể nào, thưa ông?
Ông Nguyễn Văn Khanh: Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội tỉnh luôn xác định du lịch là ngành kinh tế quan trọng. Tập trung phát triển du lịch theo hướng đa dạng hóa các loại hình, tích cực khai thác, các nguồn vốn để đầu tư cho cơ sở hạ tầng. Thời gian qua, tỉnh đã tập trung cho việc làm đường và điện. Đến nay 100%, các xã đã có điện, hệ thống đường giao thông từ huyện đến các xã hầu hết đã được nhựa hóa. Các đền, chùa, khu du lịch cũng thường xuyên được nâng cấp, tôn tạo. Hiện ủy ban nhân dân tỉnh đang lập dự án kêu gọi vốn đầu tư xây dựng các khu du lịch như: Lâm viên cây xanh, Bảo tàng cổ vật, khu di tích đền Trần, Phủ Dầy, khu bảo tồn rừng ngập mặn Cồn Lu, Cồn Ngạn…Trong năm 2000 này, tỉnh sẽ nâng cấp khách sạn Vị Hoàng ở trung tâm thành phố. Dự tính kinh phí khoảng 7 tỷ đồng, trong đó Nhà nước hỗ trợ 50%, số còn lại thuộc ngân sách tỉnh. Song song với việc đầu tư, nâng cấp, tỉnh cũng tăng cường công tác quản lý Nhà nước về du lịch. Năm 1999, tỉnh đã giao Công ty Du lịch trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Thương mại – Du lịch nhằm xây dựng các doanh nghiệp đủ mạnh để giữ vai trò chủ đạo trong quá trình phát triển du lịch. Ngoài ra, tỉnh cũng rất chú trọng đến công tác đào tạo cán bộ, vì đây là nguồn nhân tố quyết định cho sự phát triển du lịch của tỉnh nhà.
Phóng viên: “Tháng 8 hội cha, tháng 3 hội mẹ”. Hiện nay, nganh Du lịch Nam Định đang rất bận rộn cho ngày hội mẹ – Phủ Dầy. Vậy công tác tổ chức trong những ngày hội năm nay có gì mới, thưa ông?
Ông Nguyễn Văn Khanh: Hàng năm, lễ hội Phủ Dầy thường bắt đầu vào ngày 3 tháng 3 và kết thúc vào ngày 8 tháng 3 (âm lịch). Đây là một lễ hội lớn, là 1 trong 15 lễ hội của cả nước mà Tổng cục Du lịch Việt Nam chọn làm điểm nhấn để bước vào thiên niên kỷ mới. Để tránh tình trạng lộn xộn như mọi năm, năm nay Ủy ban nhân dân tỉnh đã ra quyết định không thu lệ phí đối với khách du lịch, sắp xếp các điểm gửi xe và ra quy định thu giá vé đúng với quy định của Nhà nước. Quản lý chặt các hàng quán, cấm không được lấn chiếm lòng đường. Đới với nội dung của lễ hội, tỉnh đã giao cho Sở văn hóa phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện và các đơn vị liên quan tăng cường phần hội trội hơn phần lễ, mở thêm các tiết mục vui chơi mang tính văn hóa như thả đèn trời, hát xẩm, đấu cờ, đấu vật…Năm nay, tỉnh cũng đặc biệt chú trọng đến công tác tuyên truyền quảng bá thông qua các hình thức như in tờ gấp, in áp phích, băng rôn…
Phóng viên: Xin cảm ơn ông và chức cho những ngày hội ở Nam Định thành công tốt đẹp.
Văn Hóa – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (23(127))2000.