Tạo đà tăng trưởng mới – Phần 2

Việc thứ hai, như Phó Thủ tướng Vũ Khoan có lần đã nói, là chúng ta cần phải nhanh chóng đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp du lịch, thu hút các nguồn vốn trong dân nhằm tăng cường khả năng tài chính của các doanh nghiệp, xây dựng các tập đoàn mạnh, đủ sức cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế.

Một việc nữa theo tôi cũng không kém phần quan trọng là sử dụng hiệu quả vốn đầu tư từ ngân sách, đúng mục đích là “vốn mồi” để huy động vốn từ các thành phần kinh tế khác. Theo hướng này, 1556 tỷ đồng vốn ngân sách Nhà nước được tập trung đầu tư cho 4 khu du lịch quốc gia, 17 khu du lịch chuyên đề và những địa phương có tiềm năng lợi thế du lịch trên toàn quốc. Đối với cá khu, tuyến điểm du lịch còn lại, tiếp tục huy động vốn và nguồn lực của địa phương và cộng đồng dân cư.
Vậy những hệ thống chính sách hiện hành có còn tương thích khi tình hình biến đổi?
Đây chính là vấn đề mà ngành du lịch đang nỗ lực giải quyết. Pháp lệnh du lịch ra đời năm 1999 đã góp phần quan trọng vào những tiến bộ của du lịch Việt Nam những năm qua. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, Pháp lệnh du lịch đã tỏ ra “chật chội” trong khi các hoạt động về du lịch ngày càng trở nên sôi động và rộng khắp. Nhiều vấn đề về cơ chế đang có vướng mắc. Chúng ta đang nỗ lực hoàn thiện Dự thảo Luật Du lịch để sớm trình Chính phủ và Quốc hội trong năm 2005. Đây sẽ là hành lang pháp lý quan trọng trong việc phát triển du lịch cũng như giải quyết các vấn đề liên quan.
Theo đồng chí nguồn nhân lực hiện nay của ngành du lịch như thế nào?
Chúng ta đã xác định rất rõ tầm quan trọng của chất lượng đội ngũ làm du lịch, đây là yếu tố tiên quyết làm nên chất lượng sản phẩm du lịch. Hiện nay chất lượng đội ngũ làm du lịch của chúng ta chưa cao. Chính vì thế, vài năm trở lại đây, ngành đã chú rất chú trọng đầu tư xây dựng nguồn nhân lực. Tổng cục Du lịch Việt Nam đã tranh thủ và thu hút được sự hỗ trợ quốc tế về đào tạo nguồn nhân lực du lịch với tổng số vốn tài trợ không hoàn lại lên tới 25 triệu USD thông qua các dự án với Luxembourg, EU và với các nước Tây Ban Nha, Bỉ, Singapore…
Song làm du lịch không chỉ có người trong ngành du lịch vì du lịch là một ngành kinh tế có tính liên ngành, liên vùng, tính xã hội hóa rất cao. Chính vì lẽ đó, nhận thức xã hội về phát triển du lịch của cộng đồng và địa phương, nơi diễn ra hoạt động du lịch đóng vai trò rất to lớn. Họ trực tiếp xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo ra sản phẩm tại chỗ, dẹp các tệ nạn. Họ quản lý các loại tài nguyên du lịch từ tự nhiên đến nhân văn… Chúng ta cần có nỗ lực chung của nhiều ngành nhiều cấp liên quan, của các doanh nghiệp và cộng đồng để xây dựng hình ảnh đặc trưng cho du lịch Việt Nam là điểm đến an toàn và thân thiện.
Xin cảm ơn đồng chí!
Anh Minh – Du Lịch – Tổng cục du lịch Việt Nam – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(349)2004