Vị tướng tuẫn tiết đầu tiên

Ông người làng Đại an, xã Hành Thuận, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quãng Ngãi. Một làng quê cách trung tâm tỉnh lỵ chừng 4 cây số về phía Nam. Tổ tiên ông vốn có gốc từ Nghệ An, theo chúa Nguyễn Hoàng vào Nam lập nghiệp. Một dòng họ có 3  người được phong quận công. Theo gia phải thì Võ Duy Ninh là con thứ hai của một gia đình có ba anh em. Anh cả là Võ Duy Thành, đỗ cử nhân tại trường Thừa Thiên Huế khoa Canh Tý (1840) 4 năm sau lại đỗ phó bảng, trở thành một trong 11 vị đại khoa của đất Quảng. Em út là Võ Duy Luật, chỉ đỗ tú tài, trong gia phả không thấy ghi gì thêm. Võ Duy Ninh tự là Trọng Chí, hiệu là Trúc Nghiêm Võ Chí Hiên. Ông sinh năm 1805, đổ cử nhân năm giáp Ngọ (1834) đời Minh Mạng thứ 15 tại trường thi Thừa Thiên. Như vậy ông đã đổ cử nhân trước anh trai mình và trở thành người đỗ sớm của Quảng Ngãi (chỉ sau Trương Đăng Quế 1819, Trương Công Liêm -1828, Nguyễn Bá Nghi -1832). Ông là người hiếu học văn hay chữ tốt, có giọng đọc hay nên mỗi lần có tế đàn Nam Giao, Vua Tự Đức thường mời ông về đọc văn tế. Ông từng giữ chức Hành tẩu Bộ Lại, năm 1847 làm Bố chính tỉnh Hưng Yên, đến năm 1852 điều về kinh giữ chức Hữu tham chi Bộ Lại. Tháng 11/1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược Đà Nẵng, gặp sự kháng cự quyết liệt của triều đình Huế, chúng quay vào đánh Gia Định. Lúc này ông đang cư tang mẹ ở quê nhà, chưa xong 3 tháng, ông phải vội vàng vô Nam theo chiếu gọi của triều đình nhà Nguyễn. Với chức Hộ đốc thành Gia Định, vừa vào đến nơi, ông đã phải sức đi các tỉnh đem quân về cứu vì lúc này Pháp đã đánh vào Gia Định. Mặt khác ông tích cực lo chuẩn bị bố phòng, sẵn sàng chống lại mũi tiến công của Pháp. Quân Pháp dưới sự chỉ huy của Rigult de Gaennully đánh  vào cửa Cần giờ, phá hủy các pháo đài của ta rồi chọc thẳng vào thành Gia Định. Võ Duy Ninh đã chỉ huy quân lính chiến đấu dũng mãnh chống lại nhưng vì chưa có thời gian chuẩn bị lâu dài, thế cô lực yếu, chỉ vài ngày sau, thành Gia Định thất thủ, ông bị thương nặng, một viên suất đội đã cõng ông chạy ra ngoài thành đến làng Phước Lý. Tỉnh dậy, biết thành bị mất ông quay mặt về thành lạy tạ tội rồi rút gươm tự vẫn. Hôm ấy nhằm ngày 17/2/1859. Cái chết lẫm liệt của Võ Duy Ninh và sau này của Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu.. là những cái chết bi hùng của kẻ sĩ trong thời loạn lạc, đại diện cho khí tiết của hàng ngũ những viên quan lại yêu nước thế kỷ 19 cho sự tồn vong của đất nước. Dẹp bỏ nỗi niềm riêng, chọn cái chết cho mình khi thấy thành thất thủ là một lối hành xử của người cầm quân thời phong kiến. Cái chết của ông là một thái độ đáng trân trọng, mãi mãi được tạc ghi vào lịch sử.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai.